Tứ Quý

Tác Giả: Nguyễn Thanh Xuân, CHS Văn Đức Niên Khóa 1969 – 1975

Nhóm chúng tôi chơi với nhau gồm có 4 đứa, từ khi lên cấp 3, vào những niên khóa 70 cho đến 75. Các bạn hay gọi đùa là TỨ QUÍ và tên của chúng tôi đọc ra nghe cũng rất vần nữa XUÂN, YẾN, MAI, TÂM.
Mùa Xuân về
Hoa Mai nở
Chim Yến (én) bay
Tâm vui hát

Chẳng phải vì chúng tôi hay phá phách hay nghịch ngợm mà bị gán cho như thế, nhưng cũng chẳng đủ hiền thục để được gọi là Tứ Quý.

ROI MÂY

Nhà chúng tôi lại ở gần Trường Văn Đức, cùng chung một Xứ Đạo, chẳng những được đi học gần mà đi lễ cũng gần. Ngoài thời gian gặp nhau ở Trường vào buổi sáng, chúng tôi còn được gặp nhau sau 5 giờ vào buổi chiều tại Nhà Thờ nữa, nhưng chính vì Trường gần nhà đã làm cho chúng tôi hay ỷ lại mà sinh ra lắm tội.

Một tuần có 6 ngày đi học chúng tôi đi trễ đến 2 ngày, bạn nào đi sớm thì đến nhà bạn kia để rủ đi học, ít có khi nào chúng tôi đến trường mà không có từ 2 bạn trở lên, thường thì Xuân và Yến đi trễ nhiều hơn cả, Tâm và Mai họa hoằn lắm mới có 1 lần.

Dạo đó, Cha Phêrô Lã Quang Hiệu là Thày dạy môn Pháp Văn cho lớp chúng tôi vừa làm thêm công việc của một Giám Thị, Cha rất hiền và có nụ cười đôn hậu nhưng khi cần phải nghiêm khắc với học trò Cha cũng không nương tay, ấy thế mà chúng tôi nào có chừa cái tật đi học trễ.

Ngài thường hay đứng ở cổng Trường với chiếc "roi mây" nhịp nhịp trên tay để đón những học sinh đi học muộn, chúng tôi biết khó mà lọt qua được nên cứ lấp ló từ xa chờ thời cơ nếu Ngài lơ là một chút chúng tôi liền chạy như bay lên lớp, hay hôm nào vì bận việc gì đó Ngài không có ở đó chúng tôi xem như may mắn thoát nạn bằng không thì xếp hàng đứng đó để dược lãnh thưởng roi mây, mỗi lần đi trễ từ 3 roi trở lên, có khi thì phết vào mông và cũng có khi bị đánh vào tay, chúng tôi sợ nhất là bị đánh vào tay, khi Ngài vung tay lên đẻ đánh thì Ngài thường kèm theo nụ cười "duyên dáng" (lúc Ngài cười thì roi quật xuống mạnh lắm) theo phản xạ chúng tôi hay rụt tay lại và thường là bị hụt, mà hụt thì coi như chưa đánh, để chắc ăn như bắp Ngài nắm lấy bàn tay nhỏ bé của chúng tôi và tay còn lại vung chiếc roi thật cao quất "cái vút", ôi cái bàn tay của chúng tôi nó cứ run lên bần bật đến nỗi mấy cuốn vở trên tay chỉ muốn rớt xuống đất (dạo đó học trò hay cầm vở trên tay chứ không dùng cặp) mặc dù rất đau, mắt thì rươm rướm lệ nhưng chúng tôi vẫn lấm lét nhìn xung quanh xem có bạn trai nào cùng lớp phát hiện không, nếu chẳng may có bạn nào trông thấy thì không tránh khỏi nụ cười nhạo bang hay chế riễu khi vào lớp, dẫu sao chúng tôi cũng biếtt xấu hổ lắm chứ. Con gái mà lị.

Ấy thế mà chỉ dược vài tuần, đâu lại vào đó, lại tiếp tục tái phạm, dạo đó chúng tôi "thù" Cha lắm, sau này lớn them một chút, lập gia đình rồi chúng tôi mới hiểu câu nói: Yêu thì cho roi cho vọt. Cha oi, chúng con đã hiểu và nhận biết, chỉ vì thương yêu và muốn chúng con nên người Cha mới đe nẹt chúng con bằng cach đó, những lời bộc bạch của chúng con ngày hôm nay cũng là để cho mọi người thấy rằng, chính những chiếc roi đó đã làm cho chúng con ngày hom nay được thành NGƯỜI.

Phải nói rằng dạo đó chúng tôi không nghịch phá ra mặt như cánh con trai nhưng nghịch ngầm thì chẳng thua ai, vào lớp ít khi nghe lời Thày giảng bài mà chỉ lo ăn quà, cứ đợi cho Thầy Cô quay lên là chúng tôi bỏ tỏm cái gì đó vào miệng rồi nhai ngấu nghiến, không ăn thi quay sang lấy tà Áo Dài của bạn ngôi phía trên cột thành “gut” hoặc cột 2 tà dính vào với nhau, chẳng may cho bạn nào được Thày Cô gọi lên trả bài thì tha hồ mà giằng co.

Thực sự mà nói. Bộ tứ chúng tôi chỉ duy nhất có bạn Tâm là người học giỏi hơn cả, còn Xuân Yến Mai phải nói rằng học tệ lắm, chúng tôi vẫn tự nhận mình là "dốt đặc cán mai" mà, chẳng hiểu sao hồi ấy chúng tôi không co một chút ý thức gì trong việc học hành chút nào. Nhưng trong lớp người giỏi nổi bật lúc bấy giờ là Lương Quang Khôi, bạn ấy có khiếu về môn Anh Văn nhất, mỗi khi Thầy cho làm bài tập bạn ấy làm nhanh tốc độ, chúng tôi con đang hí hoáy câu 1 chưa xong thì bạn ấy đã lên nộp bài, Thày Phong luôn miệng khen "Thằng Khôi nó giỏi", nhóm con gái chúng tôi cũng nể phục sát dất đấy.

CHAI NƯỚC PHÉP

Có một chuyện làm cho chúng tôi mỗi lần nghĩ tới lại bò lăn ra để cười, đó là lần Yến nói dối Bố Mẹ để đi xem Lễ ở Bình Triệu (nơi đặt tượng Đức Mẹ FATIMA, nhưng kì thực là chúng tôi đi Sở Thú chơi, trước khi đi Bố của Yến có căn dặn chúng tôi rằng khi về nhớ xin cho Ông Chai Nước Phép, dĩ nhiên chúng tôi vâng dạ ngọt xớt để dược Ông tin tưởng và cũng dược thoải mái mà không phải lén lút, chúng tôi mải mê chơi đùa cho dến chiều mới về đến nhà, cũng may là còn nhớ đến Chai Nước Phép mà Bố Yến căn dặn, làm thế nào bây giờ, không có Nước Phép Yến sẽ bị ăn đòn nên thân. Chúng tôi bèn nghị ra cách múc nước giếng ở nhà Xuân lên đổ vào chai rồi đem về đua cho Ông, ngay lập tức chúng tôi thực hiện ý định trên và đem dến, dĩ nhiên Ông không một chút nghi ngờ, sau đó Ông trịnh trọng đem lên Bàn Thờ, mỗi lần đọc kinh tối Ông đều mang xuống để rẩy xung quanh Bàn Thờ, còn Yến thì quay mặt đi để cười và nhủ thầm: NƯỚC GIẾNG ĐẤY. Ngày hôm sau nghe Yến kể lại chúng tôi cười muốn vỡ bụng, cũng có đôi khi Ông hay Bà bị đau bụng lấy “Nước Phép” đó uống nữa chứ. Bí mật đó chúng tôi vẫn giữ mãi với nhau cho đến bây giờ, Bố của Yến không còn nữa nhưng tôi nghĩ ở đâu đó trên Thiên Đàng, nếu Ông đọc được những dòng chữ này chắc Ông cũng phải phì cười "GỚM SAO MẤY CÁI CON RANH NÀY NÓ CŨNG LỪA ĐƯỢC CẢ MÌNH NỮA CƠ ĐẤY".

ĐI HỌC MAY

Hồi đó chúng tôi cùng rủ nhau đi học may ở một con hẻm đối diện với Rạp Hát Thanh Vân vào buổi tối, học may la phụ còn chơi là chính mà, ở Trước cửa Rạp Hát có mấy bà bán khoai mì với dừa nạo rất hấp dẫn, thơm ngon nức mũi, chẳng buổi học may nào mà chúng tôi không mua lấy vài gói để mang vào lớp, vừa học vừa ăn, vì là lớp học may nên được ăn quà thoải mái, chính vì vậy đên khi học mãn khóa chẳng đứa nào may nổi cái áo hay cái quần cho chính mình nữa.

Nhung điều đáng nói ở đây là cứ sau mỗi buổi học ra về chúng tôi toàn bị nhóm con trai ở khu đó chạy theo tán tỉnh, rồi cũng nói chuyện, cũng cười đùa, cho biết tên nhưng chỉ là tên giả thôi, vì không phải tên thật của chúng tôi nên đôi khi mấy "gã" đó gọi tên, chúng tôi cứ như cây gỗ, đứa nào cung thộn người ra mới chết chứ, hay cung có lần chúng tôi quen với một người có "Xế hộp" (dạo đó xế hộp là ngon lắm) họ mời chúng tôi lên xe để họ chở về Nhà dùm, cả bọn thích quá bèn trèo ngay lên không môt chút suy nghĩ, khi về đến đầu đường chúng tôi muốn xuống nhưng họ không cho xuống, mà chúng tôi cụng chẳng biết làm cách nào để mở cánh cửa, đúa nào cũng lo ngay ngáy, tim đập thình thịch, phải giả vờ hứa hẹn để họ dừng lại cho, sau lần hú vía đó chúng tôi tự dặn nhau chớ có dại dột như thế nữa. CHƠI NHƯNG MÀ NHÁT LẮM. Dẫu sao những trò nghịch ngợm của chúng tôi cũng chỉ là những trò đùa của con gái, chẳng làm tổn hại đến ai cả, thật đúng với câu: Nhất Quỉ nhì Ma, thứ ba Học Trò.

Và còn rất nhiều kỉ niệm đẹp nữa, bây giờ mỗi lần nghĩ đến chúng tôi không khỏi nuối tiếc vì thời gian không thể quay lại để chúng tôi dệt những ước mơ của một thời áo trắng đã từng ấp ủ chưa thực hiện được với đầy ắp kỉ niệm đẹp.

Xin Được Đóng Góp Sự Thiết Kế Trang Web Này Để Tỏ Lòng Tri Ân Đến Cha Hiệu Trưởng & Quý Thầy Cô