Tản Mạn Cùng Mùa Xuân

Tác Giả: Phan Văn Thanh, CHS Văn Đức Lớp 12C Niên Khóa 1972 – 1975

Mỗi độ tết đến, xuân về. Trên khắp mọi nẻo đường quê hương đâu đâu cũng nô nức tiếng cười nói cùng những lễ hội rộn ràng, chào đón một mùa xuân mới với bao niềm vui. Gió xuân cũng nồng nàn hơn với chút se lạnh còn rớt lại sau mùa đông dài ... như khẽ reo, thầm hát bên những cô gái xuân thì. Người người nhộn nhịp bên nhau dạo qua từng con phố trong không khí du xuân. Những hình ảnh đó còn in đậm dấu ấn thời gian của những năm đầu thế kỷ 20 và đến nay thì không còn gặp nữa. Song, trong ký ức của mỗi người cảm xúc về cái không khí tết của những ngày xa xưa như vẫn còn nguyên vẹn một màu vàng nắng ấm, để rồi có một hôm bỗng nhận ra: cái ngày xa xưa ấy đã qua rất vội từ lâu lắm rồi.

Thi sĩ Tản Đà đón xuân

Nến rạng trầm thơm chờ tết đến
Trà xanh rượu ngọt đón xuân về

Tản Đà là một nhà văn, nhà thơ, nhà báo rất đặc biệt trong lịch sử báo chí và thơ văn Việt Nam. Xuân năm nay, chúng ta nhớ lại một mẩu đời, một câu chuyện rất thú vị của nhà văn, nhà thơ, nhà báo Tản Đà trong ngày tết cổ truyền của Việt nam.

Mùa xuân năm Giáp Tuất (1934) khi ấy Tản Đà còn đang viết cho tờ Đông Pháp thời báo của Diệp Văn Kỳ ở Sài gòn. Viết xong số tết, Tản Đà được lãnh luôn một tháng tiền lương, ông xài béng đi lúc nào chẳng biết. Khi Tết đến nơi, tiền tiêu chẳng có, ông đang khổ sở vì thiếu rượu, Diệp Văn Kỳ cảm thông cho cộng sự của mình đành lì xì riêng cho ông 5 đồng, ông sướng rên, hí hửng cho ngay tờ giấy bạc vào bóp. (hồi đó 5 đồng là một món tiền to) Tản Đà vội vã chạy tuốt ra tận bến xe Lô, liền thuê ngay một chiếc "đờ-la-hay" để du xuân cho oách. Ngạo nghễ nhân gian một nụ cười. Thế mới lạ đời! Chẳng hiểu cái anh chàng gàn gàn này định giở cái trò quái gì, định lấy le với thiên hạ chăng? Lúc đó Tản Đà cũng thuộc loại túng quanh năm, rách như bươm bướm … đây là lần đầu tiên người ta thấy Tản Đà tiên sinh ngang nhiên và bảnh chọe trên một chiếc xe quý tộc nơi nhộn nhịp phồn hoa thị thành, nhìn chẳng khác gì một ông chủ đồn điền thời đó. Chiếc "đờ-la-hay" đưa ông trực chỉ ra bưu điện để mua một tấm thiệp tết hết 3 đồng gửi cho Ngô Tất Tố ở Hà Nội – gọi là chút quà mừng xuân để tặng bạn.

Còn lại 2 đồng thì phải trả tiền thuê xe hết một đồng – trong túi của Tản Đà giờ chỉ còn đúng một đồng cuối cùng để chi tiêu ba ngày tết. Tản Đà nhớ đến người bạn Lưu Linh nên ông cho xe chạy vào tận Bà Chiểu, cố lôi kéo cho bằng được người bạn cùng ra Sài gòn vui xuân với một đồng bạc cắc còn lại. Cổ nhân đã nói "rượu ngon phải có bạn hiền". Thế là, đôi bạn hiền lên chương trình chi tiêu đồng bạc cuối cùng rất khít khao như sau: phải có một chai rượu trắng độ 2 cắc trước cái đã, để Tản Đà ngồi nhà nhâm nhi, còn 8 cắc giao lại cho anh bạn tên Tùng Lâm mang đi để rước một con gà mái tơ cùng một hũ Mai Quế Lộ. Chương trình như vậy là tròn trịa vừa đúng một đồng cho bữa tiệc liên hoan khá thịnh soạn và ấm cúng.

Gặp xuân ta giữ xuân chơi
Câu thơ chén rượu là nơi đi về
Hết xuân cạn chén xuân về
Ngàn thu nét mực thơ đề vẫn xuân

Ngồi xếp chân trên bộ ván vừa rung đùi, vừa ngâm nga mấy câu thơ tết chờ bạn đem mồi về là tưng bừng chén anh chén chú, chén thù chén tạc... nhưng chờ mãi ... chờ mãi mà chẳng thấy bóng dáng của anh bạn Tùng lâm xuất hiện, càng chờ càng biệt vô âm tín. Chẳng lẽ chưa đi đến chợ đã rơi mất tiền hay lại ghé vào sòng bài nào chăng! Ông sốt ruột nên đoán già đoán non mãi. Rồi đồng hồ điểm 9 giờ tối, trong xóm đã nghe tiếng pháo tết nổ đì đùng mà sao ông bạn hiền vẫn biệt tăm. Buồn tình, Tản Đà làm đỡ một ly rượu trắng trong lúc chờ đợi bạn. Rốt cục, Tản Đà đã lăn quay ra gường đánh một giấc ngon lành – mặc cho trời đất lăn quay.

Trong khi đó anh chàng Tùng Lâm, người mang sứ mệnh trọng đại ra đi đã hoàn thành nhiệm vụ được giao với một con gà mái tơ và hũ Mai Quế Lộ trên tay. Nhưng trên đường về thấy một đám đánh lộn giữa chủ sòng bầu cua tôm cá với các con bạc, Tùng Lâm bèn cao hứng đứng lại xem. Bỗng Mã Tà (cảnh sát) xuất hiện, còi tu huýt thổi liên hồi, thế là một bọn gồm năm, sáu tên bị thộp cổ. Không may, anh bạn Tùng Lâm cũng dính vào trong số đó. Tình ngay mà lý gian... Thế là, con gà mái tơ và chai rượu quý cùng theo Tùng Lâm về bót.
  • Thưa xếp, oan cho tôi, tôi chỉ đứng xem chứ có đánh nhau với ai đâu?
Nhưng xét qua hình tượng bên ngoài của Tùng Lâm với bộ quần áo nhàu nát, cáu bẩn, mã tà xác định được rằng, đây đúng là tay Ma-cà-bông.
  • Không đánh lộn hả? Được rồi, vậy chứ giấy thuế thân đâu? không mắc đằng mồ cũng mắc đằng mả. Đã lậu thuế lại còn ăn mặc theo kiểu anh chị, lại còn đứng sớ rớ trong đám đánh lộn.
Nếu không đánh lộn thì cũng hô hào, xúi giục kẻ khác đánh lộn. A lê hấp! Về sở cẩm.

Ngồi trong nhà lao một mình suốt ba ngày tết với con gà tơ và hũ rượu. Tùng Lâm chỉ còn cách đắc tội với Tản Đà tiên sinh rồi ra tay phũ phàng một mình, mặc cho Tản Đà ở nhà chờ đợi đến queo râu cũng đành chịu. Sáng sớm hôm sau, nhờ đèn giời soi xét, mã tà vào chỉ thấy anh chàng nằm ì ra đất, bên cạnh đống xương gà và hũ rượu trống không, thấy tội nghiệp bèn tha cho về. Về đến nhà, thì bác Tản Đà vẫn còn đang mơ màng, đến khi tỉnh giấc thì nhận được bài thơ ứng khẩu của Tùng Lâm như sau:

Cao hứng vì yêu bác Tản Đà
Một chai Quế Lộ một con Gà
Suốt đêm trừ tịch nằm trong bót
Nhớ lại buồn cười lúc tỉnh ra

Tết – Chị Trúc Với Nhà Thơ Nguyễn Bính

Chị Trúc trong thơ Nguyễn Bính không có thật, chỉ là một sáng tạo thi ca. Ở đâu ta cũng thấy có hồn của chị Trúc. Chị Trúc không phải là người yêu. Chị là mẹ, là cha, là cây trúc cho hồn thơ Nguyễn Bính bám rễ leo lên. Chị còn là nỗi nhớ thương đau đáu của một người con mất mẹ khi mới tròn ba tháng tuổi. Chị cũng là hiện thân của nỗi cô đơn suốt những năm tháng dài.

Nguyễn Bính đã cố tình tạo ra chị Trúc, để biến những tâm sự độc thoại của mình thành đối thoại, tạo ra một khoảng cách an toàn giữa nhà thơ và chị Trúc, giữa Huế và Bắc, giữa người trong chăn ấm nệm êm và kẻ mong manh ngoài sương gió, để tưởng như ở một nơi nào đó, có người đàn bà đang chờ mình sợ không kịp chuyến tàu đêm cuối năm, để mở ra một không gian nhung nhớ, mà Xuân tha hương là bài thơ cho tất cả những ai phải xa nhà khi mùa xuân đến.

Tết này chưa chắc em về được
Em gửi về đây một tấm lòng
Ôi! Chị một em, em một chị
Giời làm xa cách mấy con sông
Em đi dang dở đời sương gió
Chị ở vuông tròn phận lãnh cung
Chén rượu tha hương, trời: đắng lắm
Trăm hờn nghìn giận suốt mùa đông
Chiều nay ngồi ngắm hoàng hôn xuống
Nhớ chị làm sao nhớ lạ lùng ...
Tết này chưa chắc em về được
Em gửi về đây một tấm lòng
Tết này, ô, thế mà vui nhá
Những một mình em uống rượu nồng
(Xuân tha hương)

Trong những một mình em uống rượu nồng là nỗi cô đơn chia hai nhưng lại thành một mình. Nhà thơ tìm đến rượu để say như tìm về cõi phúc để niềm cô đơn – say và nỗi nhớ vu vơ hòa trộn vào nhau, tan trong nhau, rơi xuống nhân gian thành những giọt sầu. Uống say cười vỡ ba gian gác – ném cái chung tình xuống đáy sông trong cái oan nghiệt của một đời giao kết giữa Say và Nhớ trong thơ Nguyễn Bính đã nói lên tâm trạng cô đơn dày vò. Đầu tôi lại gối cánh tay tôi và tận cùng của nỗi buồn khi xa vắng. Bàn tay lại nắm phải bàn tay ... Rồi cũng chính trong sâu thẳm của tâm hồn ấy, vừa muốn xa lại vừa muốn sống với nỗi nhớ như cấu cào. Tìm đến nỗi nhớ như một cứu cánh của cuộc đời, của tình yêu ... khi phải đón chào một mùa xuân tha hương nơi xứ người...

Khai Bút Đầu Xuân

Vào mỗi dịp đầu xuân, người có chức tước thì khai ấn, học trò thì khai bút, nhà nông khai canh, người buôn bán thì mở hàng lấy ngày ... sau ngày mùng 1, có mải vui tết đến mấy thì cũng phải chọn ngày để khai trương dù chỉ làm lấy ngày. Nếu như ngày mùng 1 là ngày tốt, thì chiều mùng 1 bắt đầu. Riêng khai bút thì giao thừa xong, chọn giờ hoàng đạo không kể ngày mùng 1 là tốt hay xấu. Người thợ thủ công nếu chưa ai thuê mướn thì cũng tự làm cho gia đình một sản phẩm gì đó. những người buôn bán, ai cũng chọn ngày tốt nên phiên chợ đầu xuân cũng rất đông, dù chỉ bán lấy lệ.

Người đi chợ phần nhiều là đi chơi xuân. Với các lễ hội và trò chơi dân gian ngày xưa như, đánh cờ người, múa lân, múa võ, thi leo cột mỡ ... tùy theo mỗi vùng miền ...

Nghề Chơi Cũng Lắm Công Phu

Ngày xuân, tản mạn ... cùng thư pháp cũng là một cái thú tiêu dao thú vị, để thấy lòng nhẹ nhàng, thanh thản hơn cùng hương vị mùa xuân đang lan tỏa khắp đất trời. Nó góp phần làm cho cuộc sống con người bớt bận bịu lo toan ... có lẽ, thư pháp là thú chơi nho nhã phong lưu nhất trần đời mà tạo hóa đã ban tặng cho con người. Nói đến nghệ thuật thư pháp, người ta nghĩ đến cái hồn của chữ. Đó cũng là thần thái của "người cho chữ" được thể hiện qua phong thái ung dung tự tại, tâm thế vững vàng và nét bút đầy tài hoa, phóng khoáng.

Người khai sinh ra thư pháp viết bằng chữ quốc ngữ có lẽ là nhà thơ Đông Hồ. Những lúc hứng thú, thi sĩ đất Hà Tiên lại phóng bút viết trên giấy dó những câu thơ "Thiên cổ chí kim" của bạn thơ hay của chính mình. Thời của Đông Hồ thi sĩ, viết thư pháp không chỉ thuần túy là một thú chơi mà trở thành đạo của chữ nghĩa. Những bức thư pháp do Đông Hồ phóng bút là quà tặng dành cho những người bạn tri âm tri kỷ.

Bậc cao niên trong làng thư pháp ở đất "Tràng An" là ông Lê Xuân Hòa. Ông cũng đã được giới thư pháp Việt nam xem là tiền bối về nghệ thuật thư pháp, nhất là thư pháp Hán ngữ, ông là bậc tài hoa của nền thư pháp Việt với cái tâm tĩnh mà động, thần thái nho nhã như một "cụ Đồ".

Nghệ thuật thư pháp trong những năm qua làm phong phú, đa dạng cả về phong cách lẫn hình thức thể hiện và ý nghĩa nhân sinh của thư pháp. Nếu có dịp đến cố đô Huế vào những ngày Festival, người dân Huế và du khách sẽ rất thích thú trước những gian trưng bày thư pháp độc bản truyện Kiều của Nguyễn Du, được nhóm thư pháp Huế phóng bút trên giấy khổ rộng.

Còn một điều rất thú vị và độc đáo khi nhà thư pháp của Huế đã khiến cho du khách phải trầm trồ, ngạc nhiên và nghiêng mình kính phục với chiêu độc. Viết thư pháp ... bằng râu. Riêng việc dưỡng râu đã là một kỳ công. Nhưng dùng "bút râu" chấm vào nghiên mực để thể hiện ... thư pháp trên giấy phải gọi là tuyệt chiêu, công phu tuyệt đỉnh! mà xưa nay hiếm.

Thư pháp là sự kết hợp giữa nghệ thuật viết chữ và ý nghĩa của những chữ thể hiện trong bức thư pháp. Chữ nghĩa của các bậc " Thánh Hiền" thường thấy trên các bức thư pháp như: Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín, Nhẫn, Phúc, Lộc, Thọ ... thơ văn Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Bùi Giáng ... hay thơ của các nhà Đường thi. Cũng có khi là các ca từ ... thường xuất hiện trong các cuộc triển lãm thư pháp, trên lịch tết, trong nhà những người yêu thư pháp và "Sính" văn chương thi phú. Thư pháp không đơn thuần chỉ thể hiện trên giấy Dó, mà còn được thể hiện trên gỗ, trên đá, trên lá, trên vải vóc, trên nong, nia hay giần sàng ...

Bàn về chuyện thư pháp, đã tiêu tốn không biết bao nhiêu giấy mực của những nhà nghiên cứu nghệ thuật, văn hóa, ngôn ngữ, của những nhà báo, nhà phê bình ... có một dạo, trên báo chí người ta phê rằng: Thư pháp tiếng việt viết theo phong cách hiện hành là làm nghèo ngôn ngữ của dân tộc ... việc phê phán hay ca tụng là quyền của mỗi người. Thư pháp vẫn tồn tại và phát triển như vốn có từ xưa cho đến tận hôm nay.

Ông Đồ

Chẳng tham ruộng cả ao liền
Ham vì cái bút cái nghiên ông đồ

Ngày xưa hình ảnh của ông đồ là biểu tượng cho sự thanh cao nho nhã, được mọi người nể trọng, họ được coi là tầng lớp trí thức, những người được thụ hưởng chữ nghĩa của Thánh hiền, là nhân tài của đất nước.

Ai ơi đừng lấy học trò
Dài lưng tốn vải ăn no lại nằm
Ngày thì cắp sách đi rong
Đêm về lại giữ đèn chong một mình.

Chàng nho sinh trả lời:

Dài lưng đã có võng điều
Tốn vải đã có áo triều vua ban

Có chồng là học trò người phụ nữ phải hy sinh rất nhiều, tảo tần mưa nắng, chịu thương chịu khó nuôi chồng ăn học và mong sau này chàng lập được chút công danh cho bõ những ngày gian khổ.

Vì tằm tôi phải chạy dâu
Vì chồng tôi phải qua cầu đắng cay
Chồng tôi thi đỗ khoa này
Bõ công kinh sử từ ngày lấy tôi

Kẻo không rằng chúng bạn cười
Rằng tôi nhan sắc cho người say mê
Tôi hằng khuyên sớm khuyên trưa
Anh chưa thi đỗ ... thì chưa... động phòng

Ai cũng biết bài thơ "Ông Đồ" của tác giả Vũ Đình Liên là một tuyệt tác vô tiền khoáng hậu. Tác giả đã cho chúng ta thấy lại hình ảnh một ông đồ đầy tính nhân văn, nhân bản, đưa chúng ta trở về với không gian, hình bóng cũ của một thời xa xưa trong cái không khí tết của Việt Nam.

Mỗi năm hoa đào
Lại thấy ông đồ già
Bày mực tàu giấy đỏ
Trên phố đông người qua.

Nhưng phía sau của những điều tuyệt vời ấy, chính là nỗi niềm cay đắng, ngậm ngùi của những người được thiên hạ kính trọng gọi là "Thầy".

Muốn sang thì bắc cầu Kiều,
Muốn con hay chữ phải yêu lấy thầy...

Thầy không chỉ là người khai tâm, mở lối cho chúng ta về cái chữ, cái nghĩa mà gieo trồng nơi tâm hồn những đứa học trò nhỏ cái nhân nghĩa của đạo làm người. Vậy mà, những hình ảnh tốt đẹp ấy nay đã không còn nữa. Kể từ khi người pháp vào cai trị đất nước ta thì mọi chuyện đã thay đổi. Nhà nho không còn được trọng dụng nữa, thiên hạ đổ xô đi học tiếng pháp, chẳng còn ai học chữ nho làm gì, vì thế cái nghề gõ đầu trẻ cũng lụi tàn.

Cái học thời nay đã hỏng rồi
Mười người đi học chín người thôi
Cô hàng bán sách lim dim ngủ
Thầy khóa tư lương nhấp nhổm ngồi.

Những ngày giáp tết, thiên hạ nô nức đua nhau đi chợ mua sắm tết, còn ông đồ vẫn cứ bò lê trên vỉa hè đường phố để bán chữ kiếm chút tiền tiêu tết. Những người được dân chúng nể phục vì cái tài ứng đối, châm biếm thiên hạ hay được yêu mến vì có tài làm cho thiên hạ phải khóc cười. Cười ra nước mắt... Càng cười càng thấy chuyện đời thú vị và sâu sắc. Chính vì thế mà có người được bá tánh suy tôn và phong cho họ là "Trạng" những ông trạng chẳng liên quan gì đến việc thi cử, chẳng có áo mão, cân đai của vua ban, nhưng vẫn được mọi người cung kính.

Những câu chuyện và giai thoại về họ được kể đi kể lại và còn lưu truyền đến mãi ngày sau. Trong tiếng cười ấy đôi khi có pha lẫn chút đắng cay, ngậm ngùi về đường công danh lận đận, có khi lại pha chút chua chát, ngao ngán của buổi giao thời khi thực dân, phát xít cai trị, và tiếng cười ấy có chút buồn tủi, túng quẫn của kẻ sĩ khi cái thời nho học đã suy tàn, các cụ trở thành kẻ trồng cây, cấy lúa, ngày tết nhớ chữ ra ngồi viết câu đối, liễn, kiếm chút tiền còm hoặc hàn huyên với người cùng cảnh ngộ. Người đến xem viết thì nhiều, người mua chẳng có mấy ai. Bóng dáng ông đồ hàng năm ngồi viết câu đối tết bên đường giờ không còn nữa, cái thú chơi thanh tao, nho nhã cũng đã khép lại và chìm vào quên lãng tự bao giờ.

Ông đồ vẫn ngồi đấy,
Qua đường không ai hay.
Lá vàng rơi trên giấy,
Ngoài trời mưa bụi bay.

Năm nay đào lại nở
Không thấy ông đồ xưa
Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ?

Ông Đồ Ngày Nay

Tết đến, nhiều người có nhu cầu mua chữ thư pháp treo trong nhà với nhiều lý do khác nhau. Có khi vì nhớ chữ, yêu chữ, cũng có khi là học đòi làm người trí thức... Đây là cơ hội để các "ông đồ thời nay" miệt mài, gò lưng ... Bán chữ. Tuy nhiên, hình ảnh ông đồ thời nay ít nhiều đã nhạt phai hương sắc, không còn nguyên vẹn như ông đồ trong miền ký ức của thời xa xưa.

Ông đồ ngày xưa, thường đã già sau bao năm tâm huyết với cái nghề gõ đầu trẻ trong làng, trong tổng, cách nhìn nhận thế nhân, đánh giá thời vận càng sâu rộng trong việc cho chữ khi tết đến xuân về. Thường khi muốn xin chữ, phải đem lễ đến tận nhà, cung kính chuyện trò, thưa hỏi. Ông xem ai thông thạo chữ nghĩa, giỏi ứng tác thi ca, nhìn người mà cho chữ, nhìn chữ mà đoán người. Xin được chữ nào là ứng vào tài vận của nhà mình, hoặc con cháu mình của nghĩa chữ đó.

Bây giờ phố ông đồ có rất nhiều ông đồ ... trẻ măng, nhiều ông đồ còn đang học phổ thông, cũng cặm cụi ngồi bán chữ bên phố đông người qua, văn chương thi phú còn tùy vào khả năng, nhưng thường là ... kém, nhưng tất cả có cái chung là say mê viết thư pháp. Phố ông đồ hoạt động nhộn nhịp từ lúc 3 giờ chiều trở đi. Khách hàng có nhiều thành phần, có người đi ngắm, có người tìm lời hay ý đẹp mang về nhà treo, có người còn tự sáng chế những câu thơ rồi đưa cho ông đồ viết ... khách hàng buổi tối thường đi ngắm nhiều hơn mua.

Thương Mại Hóa Thư Pháp

Các ông đồ thời nay văn chương thi phú cũng vừa phải, chữ nghĩa nhiều nét cũng còn chưa chuẩn, thế nên, nhiều khách hàng cũng hay bắt lỗi, làm khó các ông đồ. Vì lẽ ấy, nên các ông đồ tiếp thị khách hàng bằng một cuốn Menu trong đó có sẵn những câu thơ, những ca từ ... hoặc vẽ trước trên giấy những cành mai, cành đào ... để khi khách hàng yêu cầu thể loại nào là có ngay. Cũng như chữ thư pháp phải được viết bằng hai màu chủ đạo là đen trắng nhưng khách hàng thích màu đỏ, xanh hay vàng ... các ông đồ cũng phải chiều ý. Chữ thư pháp thường chỉ viết trên giấy dó, giấy xuyến chỉ thì bây giờ phải viết trên nhiều loại giấy theo yêu cầu của Khách hàng.

Các ông đồ ngày nay có thể viết, hoặc vẽ nhưng không thể ứng tác câu đối hay xuất khẩu thành thơ theo yêu cầu của khách hàng. Vì thế, đã có hàng loạt những "Menu" lời hay ý đẹp về tình yêu, về cuộc sống ... viết sẵn. Chỉ cần khách gợi ý ... là có ngay một tập thơ đưa ra chào hàng. Còn nếu khách vẫn không hài lòng, thì có một cụ già ngồi gần đó sẵn sàng sáng tác thơ theo đơn đặt hàng với giá cả tùy hỉ. Có thơ, khách hàng chuyển sang cho ông đồ chép rồi mang về nhà treo ... ngắm nghía cho vui cửa vui nhà trong mấy ngày tết.

Đa tài đa lộc đa phú quý,
Đắc thời đắc lợi đắc nhân tâm.

Nếu chỉ luyện viết chữ cho đẹp rồi ngồi bán chữ thì chưa đủ, cá biệt có ông đồ còn phải tra từ điển. Tại sao ngày xưa các cụ gọi là "cho chữ" vì nó ẩn chứa cái đẹp về văn hóa, nghệ thuật, sự cao quý về nhân cách. Trả tiền chỉ mang tính hình thức, tượng trưng. Nếu không có cái tâm, các ông đồ thời nay dễ phá hỏng một trong những biểu tượng văn hóa rất đẹp của Việt Nam đã có từ rất lâu. Có thể gọi là "ông đồ" được không? Khi chỉ biết viết, mà không thể làm thơ hay lý giải văn chương, nghĩa chữ. Xin mượn câu thơ của Mãn Giác Thiền sư để hồi tưởng và chào đón một mùa xuân.

"Chớ tưởng xuân tàn, hoa rụng hết
Đêm qua, sân trước một nhành mai".

Mùa Xuân là thời khắc để mọi người quây quần, tận hưởng những điều kỳ diệu, những giờ phút giao thừa quá đỗi thiêng liêng tuyệt vời của đất trời. Xin được góp vui như một chén trà, chung rượu trong dịp đầu xuân.

Xin Được Đóng Góp Sự Thiết Kế Trang Web Này Để Tỏ Lòng Tri Ân Đến Cha Hiệu Trưởng & Quý Thầy Cô