Ngày Xuân Nói Chuyện Rượu

Tác Giả: Phan Văn Thanh, CHS Văn Đức Lớp 12C Niên Khóa 1972 – 1975

Rượu, Trà, Café, Thuốc lá làm cho người ta già đi lặng lẽ.
Không uống, không hút gì cũng lặng lẽ già đi.

Rượu có từ bao giờ? Khởi nguồn từ nơi nào? Hay đã có từ trước khi con người xuất hiện. Thật chẳng ai biết. Chỉ biết rằng, Rượu là phát minh vĩ đại của con người sau Lửa. Khi có lửa con người không ăn thịt sống nữa, cho đến khi động vật khan hiếm dần thì con người chuyển sang ăn thực vật. Từ những loại cây lương thực, ngũ cốc, hoa quả người ta đã ủ, chưng cất để có được loại thức uống mà ngày nay ta gọi là rượu.

Từ khi có rượu, những chén rượu đã trở thành đầu câu chuyện của những người đàn ông, giống như miếng trầu là đầu câu chuyện của phụ nữ vậy. Các sử sách còn ghi chép, văn thơ hay ca dao đã nói lên tất cả những điều ấy. Từ các nhà chính trị, kinh tế, văn hóa cũng như các nhà thuyết khách, đàm phán, ngoại giao …đều rất biết lợi dụng những buổi tiệc rượu, những chén rượu, cho chiến thắng càng thêm tưng bừng, cho bi kịch trở nên bi thương hơn, như câu chuyện Rượu Ngu Cơ dưới đây, xin được kể cùng các bạn.

Đó là đoạn cuối trong sử thi Hán Sở tranh hùng. Hạng Vương ngồi lặng lẽ như một pho tượng đá. Ngu Cơ nhìn chàng hồi lâu để an ủi vì mấy trận đánh vừa qua đã đưa chàng vào thế bí, đến nỗi giờ đây bị giặc bao vây rất chặt.

Hạng Vương uống hết nậm rượu rồi nói: "Ngu Cơ! Lòng ta đau buồn biết mấy! Ôi! ... Ngay đêm nay ta phải giã biệt ái khanh" … Ngu Cơ vào bên trong lấy ra thanh kiếm quý mà trước đây cha nàng đã ban cho Hạng Vương để đi đòi giang san. Nàng rút kiếm ra, múa bài Song phượng thật tuyệt, rồi bảo: "Nếu có mặt thiếp chàng thêm bịn rịn mà không lo được việc lớn. Chi bằng thiếp ra đi". Nàng tự đâm lưỡi kiếm vào cổ mình rồi ngã xuống.

Hạng Vương gục xuống, nước mắt đầm đìa. Ngu Cơ ra hiệu cho Hạng Vương hãy ban cho mình một nậm rượu. Hạng Vương vội lấy thật nhiều rượu tưới vào miệng hoa của Ngu Cơ và gương mặt nàng trở nên tươi tắn đầy mãn nguyện.

Sau này những chén rượu được uống vào những lúc quá bi kịch vá quá cao cả được gọi là Rượu Ngu Cơ.

Từ xa xưa Trung Quốc đã quan niệm rượu là thứ nước chữa bệnh. Hải Thượng Lãn Ông cho rằng: "Bán dạ tam bôi tửu – Lương y bất đáo gia". Nửa đêm uống 3 ly rượu, thầy thuốc không cần đến nhà.

Riêng ở nước ta, bia xuất hiện những năm 1890 cuối thế kỷ trước, khi thực dân Pháp cho tư nhân xây một xưởng nhỏ chế tạo bia để cung cấp, phục vụ cho đội quân viễn chinh của họ. Bia là thuật ngữ của nước ngoài, còn Rượu mới là tiếng thuần Việt.

Rượu là thứ văn hóa vừa vật chất vừa tinh thần, người ta có thể chép miệng tiếc rẻ vì mua phải một món hàng quá đắt, song không ai tiếc khi mua được chai rượu đẹp, lâu năm dù cho rất đắt tiền.

Trong Lĩnh nam chích quái có chép rằng: "Hồi quốc sơ, dân không đủ đồ dùng, phải lấy cỏ cây đan áo, dệt cỏ giành làm chiếu, lấy nước cốt gạo làm rượu …" như vậy rượu vốn là một nhu cầu từ thuở hoang sơ của cộng đồng xã hội. Rượu còn là một phát minh quý giá trong huyền sử thời lập quốc hoặc còn xa hơn thế nữa không chừng.

Trải qua bao thế kỷ, trong cuộc mưu sinh để tồn tại với khí hậu, thiên nhiên khắc nghiệt, rượu được coi là thần dược cho lòng dũng cảm, đẩy lùi những lo âu, sợ hãi, giúp người ta sảng khoái tinh thần khi mệt mỏi. Con người và rượu cứ song hành với nhau qua bao nhiêu thiên niên kỷ để tồn tại với thời gian, đó quả là điều kỳ diệu lắm thay.

Rượu Với Dân An-Nam Mình

Rượu là một sản phẩm bí mật của con người, vì thế công thức pha chế luôn được giữ kín vì sự sống còn của thương hiệu. Từ những nguyên liệu ban đầu cho đến khi thành sản phẩm là cả một quá trình phức tạp với nhiều công đoạn. Cách thưởng thức rượu của mỗi dân tộc cũng khác nhau, người miền Bắc khí hậu lạnh nên thích uống rượu bằng chén, người miền Nam khí hậu nắng nóng nên uống rượu bằng ly xây chừng (loại ly nhỏ). Cách uống rượu ở mỗi giai cấp trong xã hội cũng không giống nhau.

Rượu. Có thứ rượu dành cho bậc đế vương, rượu dành cho giới quý tộc, lại có thứ rượu chỉ dành cho các nhà ngoại giao, cho những mệnh phụ phu nhân … và có cả loại rượu dành cho người bình dân, lao động nghèo, kể cả rượu cho kẻ khó hay những người cùng đinh.

Rượu nơi thôn quê, rượu chốn thị thành, rượu trên non cao, rượu nơi rừng thẳm, rượu miền sông nước, rượu uống nóng, rượu uống lạnh … Nói chung, rượu có mặt khắp mọi nơi, tận hang cùng ngõ hẹp và len lỏi vào từng nếp nhà để bầu bạn với con người.

Rượu không còn xa lạ gì với người dân Việt Nam, Rượu cũng thăng trầm theo mệnh nước nổi trôi và cũng từng có lúc suy, lúc thịnh. Rượu là thứ đồ uống đi cùng năm tháng chia sẻ niềm vui, nỗi buồn đến từng thôn xóm, của từng gia đình và làm bạn với mọi con người, mọi thành phần trong xã hội.

Rượu Tăm

Đố ai nằm võng không đưa
Ru con không hát anh chừa rượu tăm.

Nói như thế cũng có nghĩa là chẳng bao giờ anh chừa được rượu tăm cả. Nhưng tại sao lại gọi là rượu tăm?

Nếu cất 10 lít rượu thường thì chỉ được 1 lít rượu tăm mà thôi. Nó ngon nhất xứ. Người ta cho rượu tăm vào một cái chai, rượu không được rót đầy, bịt kín miệng sau đó lắc mạnh cho chai rượu sủi tăm lên. Tăm rượu bốc mạnh như reo. Khi để chai rượu đứng lên, các tăm rượu sẽ lặn mất ngay lập tức, đó là dấu hiệu của loại rượu tăm chính hiệu.

Rượu Đế

Một vài nơi miền đồng bằng Nam bộ gần sông nước, thời xưa không ai dám nấu rượu trong nhà vì nếu nhà chức trách bắt được đồ nghề nấu rượu thì chủ nhà chỉ có nước đi tù. Vì thế, người ta đành phải nấu rượu ở ngoài bãi cỏ đế bên các kênh rạch. Nhờ có những cây cỏ đế rậm rạp, cao lút đầu người che kín cho họ. Nếu chẳng may bị lộ, thì đành bỏ của chạy lấy người, cứ nhảy ùm xuống nước lặn mất thế là xong. Thủ phạm sẽ thoát thân, không bị bắt.

Loại rượu này rất ngon, có độ nặng, nhẹ khác nhau tùy theo sở thích và tửu lượng của mỗi người, đặc biệt là hương vị rất riêng đủ để đánh bại các loại khác cùng loại. Thời Pháp thuộc, nếu bắt được ai tàng trữ rượu lậu, người đó có thể tán gia bại sản, mất hết cả cơ nghiệp lại còn phải ngồi tù. Vì thế, đã xuất hiện một loại Rượu ngang, nghĩa là nó phải đi ngang về tắt, rồi thêm Rượu quốc lủi vừa bán vừa chốn chui chốn lủi bằng chết. Tất cả những loại rượu này đều bị cấm. Tuy nhiên, lúc nào chúng cũng có mặt, vì rất nhiều người vẫn thích, vẫn nghiện chúng. Chẳng thế mà có thơ rằng:

Giúp em một thúng xôi vò
Một con lợn béo một vò rượu tăm.

Điều đó nói lên rằng, trong các thứ quà tặng thì vò rượu tăm là đáng giá nhất.

Những Cô Gái Bán Rượu

Còn trời còn nước còn non
Còn cô bán rượu anh còn say sưa.

Những loại rượu cấm được các cô gái làng rượu mang đi bán rong, bán dạo khắp các nơi. Họ phải tránh mặt những người thừa hành pháp luật. Các cô gái bán rượu buộc chiếc bong bóng trâu vào bụng mình. Trong chiếc bong bóng to ấy còn có chiếc bong bóng nhỏ hơn, cả hai đều chứa đầy rượu. Một cái chứa rượu thường, một cái chứa rượu đặc biệt.

Cả hai đầu bong bóng được nối với hai cái vòi hút bằng ống sậy chìa ra phía ngoài, các cô bán rượu mặc chiếc áo có màu gụ để che lên, thắt lưng bao xanh vắt vẻo để ngụy trang, ra cái điều cô gái có bụng là vì có chửa.

Có hai phương thức để bán rượu. Thứ nhất, cô bán rượu cầm trong tay chiếc chén để rót cho người uống ngay tại chỗ. Phương thức thứ hai độc đáo hơn, dân dã hơn nhưng cũng nhuốm màu sắc phong tình và lãng mạn hơn. Cô bán rượu vén tà áo chìa cái vòi hút ra ngoài. Người khách ghé sát đầu, ngậm miệng vào hút, tu từng hơi một. Mỗi hơi là một ực, ba ực là một cút, ba cút là nửa chai, sáu cút là một chai. Cứ thế mà tính tiền.

Các cô có thể cho khách hàng của mình ngậm vòi uống ở ngay bên đường, bên bụi tre hay bất cứ nơi nào thuận tiện. Còn khách hàng thì tha hồ mà thưởng thức cái cay nồng của rượu cùng hương thơm hít hà từ cô gái bán rượu … Trường hợp khách uống ngà ngà say. Khách có thể chòng ghẹo, cợt đùa chút xíu. Thậm chí nghịch ngợm một tí cô cũng vui vẻ cho qua. Có điều, cô tính tiền rượu cao lên. Chính vì vậy mà nhiều người thích uống rượu ực … Cái cách bán rượu và uống rượu độc nhất vô nhị này chỉ có ở Việt Nam cách đây vài thập kỷ mà thôi.

Trong những dịp Tết đến, Xuân về hay những ngày giỗ kỵ, các đám hiếu, hỷ … Rượu vẫn không bao giờ vắng mặt, vì rượu còn là hiện thân của lễ nghi trong đời sống tinh thần. "Phi tửu bất thành lễ". Cũng từ đấy, khi vui, khi buồn người ta cũng uống rượu, thậm chí lúc bình thường người ta cũng uống.

Đám cưới uống rượu để chia vui, đám tang uống rượu để chia buồn. Tết uống rượu để chúc xuân, bạn bè gặp nhau uống rượu… mừng ngày hội ngộ.

Rượu với Văn Nhân – Thi Sĩ

Nói đến rượu người ta nhớ ngay đến tập Thơ say (1941) của Thi sĩ Vũ Hoàng Chương. mà tiêu biểu là câu:

Em ơi! Lửa tắt bình khô rượu
Đời vắng em rồi say với ai?

Ông là người mê rượu, mê thơ, mê hát cô đầu…và cả Quan Họ nữa. Sau Thơ say hai năm, ông cho in tập thơ Mây. Nó từ một mối tình của ông với cô gái hát Quan Họ tên Mây, tuổi mới vừa trăng tròn lẻ trong một đêm uống rượu và nghe hát cùng Thi sĩ Lê Quân ở Hà Bắc. Vũ Hoàng Chương ứng khẩu ngay một bài thơ tứ tuyệt.

Ánh rượu đào trên má đỏ hây hây
Tiếng ca tròn với khuôn trăng đầy
Ngọn cau, trăng cũng tròn theo tiếng
Tròn não nùng như tuổi của Mây

Mối tình ấy cuối cùng cũng chẳng đi về đâu, vì nàng đã có chồng theo tục Tảo hôn. Chồng nàng kém nàng năm tuổi, giờ nó lên 10, vẫn ngoài đường chơi khăng, đánh đáo. Chàng công tử Hà Thành đành ôm mối tình dở dang và viết lên tập thơ Mây để … nhớ.

Tản Đà tiên sinh, Văn Cao hay Nguyễn Bính … cũng là những người mê rượu, say rượu nhưng say trong cái thanh tao, thoát tục. Ngoài ra, còn biết bao nhiêu người được dân gian phong tặng là Thần tửu với những loại rượu đế, rượu tăm, rượu ngang, rượu cẩm, rượu nếp … chưa kể đến những loại rượu dùng cho phụ nữ như rượu Vang, rượu Bách nhật, rượu Nếp than …

Miền tây Nam bộ có rượu Gò Đen, rượu Long An là nổi tiếng. về Quy Nhơn, Bình Định có rượu Bàu đá. Là những loại rượu bình dân, rất gần gũi với cuộc sống của dân Việt Nam mình, không cầu kỳ, không cần hình thức đúng như câu ca dao xưa: Rượu ngon bất luận be sành. Rượu có thể đựng trong Hũ, Be, Nậm, Cút, Chĩnh, Ché, Sừng, Bầu, Bát…làm bằng gốm sứ, bằng vỏ trái bầu, bằng sừng trâu hay bằng bong bóng của con trâu, một con vật thân thương gần gũi và gắn bó với con người bao năm trên những cánh đồng ruộng từ thuở xa xưa.

Ngày xưa, bên mâm cỗ, không có chén ngọc, chén ngà chỉ uống rượu bằng dăm ba cái chén sành sứ. Lớn thì gọi là vại, nhỏ gọi là chén hột mít, tục hơn thì uống bằng tô…ấy vậy mà mọi người vẫn vui vẻ, chén anh, chén chú, chén thù, chén tạc đến hết đêm thâu.

Rượu là thứ rất dễ quyến rũ con người nên người xưa có câu:

Thế gian ba sự nên chừa
Rượu nồng, dê béo, gái vừa đương tơ.

Hay câu Rượu bất khả ép (các đệ tử Lưu Linh thêm vào vế sau là ép bất khả từ) để nhắc nhở mọi người đừng quá sa đà vào thảm cảnh rượu chè, cờ bạc mà mất đi hạnh phúc gia đình. Chỉ dừng lại ở Nhất nhật tam bôi tửu mà thôi.(một ngày uống 3 ly là đủ).

Có thể nói những câu thơ của Tú Xương là cách hiểu về rượu của các nhà thơ từ thế kỷ XX trở về trước. Như Giai thoại: Ông chẳng chừa cái chết tiệt gì cả dưới đây.

Một lần Tú Xương muốn uống rượu. Thấy vợ đi chợ về ông nói:
  • Hôm nay tôi muốn uống với bà vài chén, ngâm để bà nghe mấy câu thơ vừa làm. Nhưng khi cầm chai rượu lên thì đã hết, bà liền sai con đi mua rượu về, ông rót mời vợ rồi chép miệng
  • Rượu với thơ suông cũng nhạt phèo!
Biết chồng vòi thêm đồ nhắm, bà xuống bếp rán mấy bìa đậu phụ. Ở trên nhà ông Tú vừa uống rượu suông vừa nghĩ thơ. Thức nhắm mang lên, ông Tú khề khà đọc:

Một trà, một rươu, một đàn bà
Ba cái lăng nhăng nó quấy ta
Chừa được cái nào hay cái ấy
Có chăng chừa rượu với chừa trà.

Bà Tú bật cười:
  • Ông có mà chừa chết tiệt. Bảo chừa rượu sao lại còn vòi?
Ông Tú giả lả:
  • Vì không chừa được bà, cho nên cứ phải uống rượu. Tửu sắc tương liên mà lị!
  • Thế còn trà thì chừa thật chứ?
  • Ấy chết, bà muốn mời ông lang hả? Bà không nhớ câu thơ cổ ư!

Tối làm ba chén rượu
Sớm nhắp mấy ly trà
Ngày nào cũng như thế
Thầy thuốc chẳng đến nhà.

Bà Tú cười rũ rượi:
  • Té ra ông chẳng chừa cái chết tiệt gì cả!
Các ông vẫn cứ uống, rồi sau đó lại cười cợt chế diễu cái sự ham hố, buông thả của chính mình.

Đất say đất cũng lăn quay
Trời say mặt cũng đỏ gay ai cười
Say sưa nghĩ cũng hư đời
Hư thời hư thực say thời cứ say.

Những vị ấy không phải là những người đạo đức giả, nhưng vì cay đắng, xót xa khi phải yên phận trong cuộc sống đạm bạc, khổ hạnh của thời cuộc, khi nho học đã suy tàn.

Cái học thời nay đã hỏng rồi
Mười người đi học chín người thôi
Cô hàng bán sách lim dim ngủ
Thầy khóa tư lương nhấp nhổm ngồi.

Uống rượu còn là cách sống tự nhiên, tận hưởng niềm vui nơi trần thế. Ngay từ thời phong kiến, trong tâm nhiều Văn nhân, Thi sĩ rượu cũng đã là cái gì đó rất thân quen, và tốt đẹp hơn nhiều thứ khác. Rượu là niềm hoan lạc, là sinh thú cuộc đời, là những gì còn sót lại của một tâm hồn sau quãng đời trầm luân, khổ ải …

Trong số các Văn nhân, thi sĩ Việt nam, có lẽ bác Tản Đà xứng tầm với Lý Bạch nhất. Với ông rượu là bạn hiền, ông ăn trong lúc say, ngủ cũng say, thậm chí viết cũng say … vậy mà ông vẫn làm việc rất đều, rất khỏe. Tản Đà là người uống nhiều và muốn mọi người cùng uống, cùng say …

Trăm năm thơ túi rượu vò!
Một bên be rượu, bên thời bài thơ.

Đó luôn là hình ảnh quen thuộc về Tản Đà. Ngô Tất Tố viết: "Nếu không có rượu, ông Tản Đà sẽ không còn là Thi sĩ Tản Đà nữa …" còn nhà văn Nguyễn Tuân tặng Tản Đà danh hiệu Ẩm giả lưu kỳ danh.

Người ta ít có ai ngồi uống rượu với cái bóng của mình. Rượu ngon phải có bạn hiền

Rượu đã rót nhìn chưa thấy bạn
Nhấc ly lên rồi đặt xuống một mình
Lưỡi se lại ly không thể cạn
Rượu có say đâu chỉ thiếu tình.

Uống rượu phải nhâm nhi, nhấm nháp cái hương vị cay cay nơi đầu lưỡi và ngọt nhẹ nơi cổ họng. Không phải là cầu kỳ nhưng uống rượu phải được coi là nghệ thuật thì mới mong thưởng thức đến tận cùng của sự tinh hoa, tinh túy mà trời đất đã ban tặng.

Có nhiều người không hiểu đúng câu: "Nam vô tửu như kỳ vô phong" nên cứ thế nốc rượu để thể hiện cái nam nhi chí khí của mình, hễ vào cuộc nhậu là không say không về.

Người quân tử dù uống rượu vẫn luôn trầm tĩnh, uống để phấn chấn, để suy tư và cùng nhau hàn huyên, tâm sự. Tuyệt đối không mượn chén giả say mà coi chuyện uống rượu là cái thú thanh tao, nho nhã … Đó mới là người sành uống rượu.

Khi nói đến rượu người ta thường nghĩ tới khía cạnh xấu. Xin cứ tạm quên đi hình ảnh nhếch nhác của những con ma men, những tay nát rượu say bét nhè, nghiêng ngả chân nọ đá chân kia…Hãy hình dung một cụ già cốt cách phi phàm, nhấp chén rượu xuân rồi chấp bút đề thơ … Hay những tiên ông đầu tóc bạc phơ, ngồi bên gốc cây uống rượu chơi cờ để thấy được cái phong thái của người biết thưởng thức thứ nước tinh khôi được làm từ hạt gạo, trộn chung với mồ hôi công sức của con người mà có được. Những giọt rượu cay nồng hương vị tình người, tình đất … Có những ông già tóc bạc phơ - Rượu đào đôi chén bút đề thơ.

Trà Dư Tửu Hậu

Trên đời này, sau những câu chuyện vui buồn về đề tài muôn thủa là tình yêu thì rượu cũng là mảng đề tài được nói đến nhiều nhất. Rượu làm người ta gần nhau hơn, bình đẳng hơn. Ngoại trừ phụ nữ H’Mông còn lại hầu như mọi người vợ đều không thích chồng mình uống rượu. Cho dù khi đã uống rượu người đàn ông nào cũng đều nể vợ.

Bố vợ ngà ngà giục con rể
Đàn ông mà, ta uống đi anh
Chẳng sợ vợ, cánh mình chỉ nể
Họ có đây ta không uống đã đành.
Anh chưa say, sao anh từ chối
Hay là anh sợ "nó" phải không
Với bà ấy tôi không dám nói
Với con tôi, tôi dạy phải chiều chồng.

Đó là lời của ông bố vợ nói với chàng rể khi hai người đối ẩm và chỉ khi uống rượu người ta mới trút được tâm sự của lòng mình, dám nói ra cái chí khí của người đàn ông mà bình thường họ ngại không nói, có thể là vì không có người tri kỷ, bạn tri âm.

Thời Tam quốc, ba anh em Lưu, Quan, Trương kết nghĩa vườn đào, họ đã uống với nhau 3 hũ rượu đào và thề với trời đất sẽ gắn bó với nhau suốt đời. tuy không sinh cùng tháng, cùng năm nhưng sẽ chết cùng năm cùng tháng …

Lại nữa, khi Luu Bị đến chùa Cam Lộ để ứng cử làm rể Đông Ngô, ông cũng mang theo những xe rượu Lư Châu loại hảo hạng để làm lễ ra mắt trong cuộc hôn nhân mang màu sắc chính trị này. Thế nhưng, cuộc hôn nhân đó sau lại trở thành một cuộc tình duyên thắm thiết, đức độ của hai con người tài, sắc.

Ai về nhắn với Chu Công Cẩn
Thà mất lòng anh đặng bụng chồng.

Chính lời nhắn gửi này đã chứng tỏ sự chung thủy của một người vợ đối với chồng, và cũng chính lời nhắn gửi này đã làm cho Đô Đốc Chu Du tức giận điên cuồng vì đã phá hỏng mưu đồ lại còn bị Khổng Minh cười nhạo.

Quả thật, rượu cũng đã góp phần quan trọng trong tất cả các lễ nghi, từ ngoại giao, đến các cuộc lễ tân, kết giao bạn bè và trong những lời thề nguyền…người ta dùng rượu để tỏ thành ý, dùng rượu như một sự chứng dám.

Những tao nhân mặc khách khi uống rượu thường là rượu ngon và luôn có người hầu kẻ hạ, người có chữ nghĩa vừa uống rượu vừa làm thơ, nghe hát ca trù, vui cùng ca nhi…Kẻ nghèo hèn thì uống rượu nơi quán vắng, túp lều liêu xiêu bên vệ đường với trái cóc, trái xoài … và gọi đó là chén rượu suông, rượu nhạt. Những người dân dã ấy tuy nghèo về tiền bạc nhưng giàu lòng nhân nghĩa, luôn mở rộng vòng tay với mọi người. Cuộc đời họ ung dung, tự tại, không suy nghĩ cao xa, không mượn rượu để tiêu sầu, chỉ là thích cái không khí quán xá với bạn bè thế thôi.

Nếu có dịp xuôi về miền Tây sông nước cùng vài người bạn thương hồ uống rượu trên những chiếc ghe thì thật chẳng còn gì thú vị và hạnh phúc nào hơn. Trời nước mênh mông, trong bóng đêm dày đặc là muôn muôn, triệu triệu những vì sao. Gió sông mang theo hơi nước làm se lạnh lòng người lữ khách. Dưới ngọn đèn dầu tù mù, ngồi uống rượu nghe khúc hát Dạ Cổ Hoài Lang của ông Cao Văn lầu như oán như than. Tiếng đàn Kìm hòa chung giọng hát buông rơi từng âm thanh dặt dìu thành những giọt sầu rơi xuống đêm thâu nghe buồn man mác…cái buồn từ trong sâu thẳm sự nhớ nhung của những kẻ xa nhà … Nỗi buồn kẻ chinh phu - trong lòng người cô phụ.

Người viết không có ý cổ vũ cho chuyện uống rượu nhưng một thực tế không thể chối cãi là rượu đã đi vào đời sống của con người từ rất lâu rồi. Vì vậy, nếu không thể ngăn cấm thì đành phải đồng hành với nó. Nếu không thể chống lũ thì phải sống chung với lũ. Nhưng sống như thế nào là tùy vào mỗi người.

Chuyện về rượu, về văn nhân thi sĩ - rượu với thơ, rượu với hoa, rượu với đàn ca hát sướng là những giai thoại không thể kể hết trên bài viết này. Chỉ xin là món quà nhỏ đầu xuân gửi đến mọi người để thư giãn trong những ngày nắng ấm xuân nồng.

Nhân Dịp Xuân Về, Kính Chúc Mọi Người Hạnh Phúc, Gia Đình An Khang Thịnh Vượng!

Xin Được Đóng Góp Sự Thiết Kế Trang Web Này Để Tỏ Lòng Tri Ân Đến Cha Hiệu Trưởng & Quý Thầy Cô