Phạm Thiên Thư & Quán Hoa Vàng

Tác Giả: Nguyễn Vi Túy, CHS Văn Đức Lớp 12C Niên Khóa 1973 – 1975

Khi lái xe Honda đi ngang qua khu Cư xá Bắc Hải, Nguyễn Đạo Huân nói với tôi rằng muốn ghé vào thăm Phạm Thiên Thư (tác giả Đưa Em Tìm Động Hoa Vàng), vì anh vốn ái mộ nhà thơ này đã lâu qua các bài thơ tình tuyệt diệu. Chiều ý bạn, tôi lái xe vòng hết khu cư xá, lộn qua lộn lại đến mấy vòng mà vẫn không sao tìm ra cái quán cà phê có tên "Quán Hoa Vàng", nơi mà vào năm trước tôi đã cùng Phan Tiến (một người bạn từ Mỹ) đến thăm nhà thơ – mà khi ấy nơi ở chưa thành quán - và việc tôi biết căn nhà nhỏ bé của ông đã biến thành quán là nhờ nữ sĩ Bích Xuân ở Paris báo tin, khi cô đến thăm ông tại quán cà phê này, cách đây mấy tháng.

Tìm mãi không ra, tôi và Huân nản chí đành bỏ cuộc lái xe quành về. Riêng tôi rất đỗi bực mình vì cái khu Cư Xá này chẳng có gì xa lạ, vì ngày xưa tôi có mấy đứa bạn con sĩ quan thường rủ tôi đến nhà chơi sau giờ học. Tôi ra vào nơi này nhiều đến độ mấy ông lính gác cổng cũng quen mặt và không thèm hỏi giấy tờ chi cho thêm mệt. Nhưng nay khu cư xá ấy với những căn biệt thự kín cổng cao tường đã biến mất, và thay vào đó là "hàng hàng lớp lớp" các quán cà phê lớn nhỏ, hiện diện khắp hang cùng ngõ hẻm, khiến cái tĩnh lặng ngày xưa đã biến thành một khu chợ nhỏ, ồn ào và hỗn độn.

Cách vài hôm, lại có chuyện phải đi ngang khu cư xá, thấy có chút thì giờ rảnh rang tôi và Huân bèn đánh mấy vòng xe để tìm lại thêm lần nữa. Tôi nhớ mang máng căn nhà nhỏ của Phạm Thiên Thư nằm gần cuối một con ngõ phía bên tay trái từ cổng chính quẹo vào, và nay đã biến thành quán có tên đàng hoàng thì không có lý do gì mà không tìm ra. Thế nhưng như bị "ma bịt mắt, quỷ dẫn đường", chúng tôi vẫn không tài nào tìm ra cái địa chỉ muốn đến.

Túng thế, tôi quành xe ra đầu đường lớn, hỏi thăm một ông xe ôm đang ngồi vắt cả hai chân lên chiếc bình xăng chờ khách. Ông này vui vẻ nói biết, và chỉ bọn tôi đi tới quẹo trái, rồi quẹo phải... là tới. Cả hai cảm ơn rối rít, nhưng rồi cũng tìm hoài không ra. Gặp một đám thanh niên đang ngồi uống cà phê ở một quán gần đó, tôi tấp xe vào hỏi. Có một cậu đưa tay lên chỉ:
  • Anh cứ đi thẳng đường này, cuối đường quẹo phải, thấy quán Hoa Xanh, đi thêm chút nữa thấy quán Hoa Đỏ rồi sẽ thấy quán Hoa Vàng...
Tôi mừng quá cảm ơn loạn xạ và phóng xe chạy liền theo lời chỉ dẫn, nhưng tới nơi chỉ là con đường cụt. Nhẩm lại, tôi mới biết mấy tay thanh niên này chơi khăm, chỉ bậy, thế mà tôi còn ngu ngơ cám ơn sự tận tâm chỉ dẫn "cà chớn" ấy.

Huân bàn với tôi, quay lại gặp ông xe ôm, thuê ông ta chở tới quán là xong, vì ông ta nói biết Quán Hoa Vàng ở đâu mà. Chuyện đơn giản đến thế mà cả hai đứa nghĩ mãi không ra.

Huân xuống xe và nhảy sang ngồi với ông xe ôm, tôi phóng xe chạy theo. Ông ta đi nhanh y như người rành đường đi nước bước, nhưng rồi quành đi quành lại mấy vòng cũng chẳng tìm ra cái quán ấy. Tôi bảo ông ta dừng lại hỏi người ở trong mấy cái quán gần đó, nhưng ông ta xua tay:
  • Tới quán này mà hỏi địa chỉ quán kia... họ ghét lắm, chẳng chỉ đâu!
Nhớ lại chuyện bị mấy thanh niên gạt, tôi cảm thấy lời ông xe ôm có lý nên thôi không có ý kiến nữa. Đang khi túng thế, gặp mấy người làm vệ sinh đi ngang, tôi chận lại hỏi, thì họ cho số nhà và tên đường đàng hoàng. Lần này thì chắc ăn như bắp vì họ đổ rác cho cả khu cư xá này thì nhà nào mà họ không biết. Ông xe ôm mừng húm nói:
  • Tưởng quán nào, quán này mới mở mà... lớn lắm...
Nghe nói quán mới mở lại "lớn lắm" khiến tôi nghi ngờ cái địa chỉ mà mấy người làm vệ sinh vừa cho, nhưng tôi không kịp nói gì thêm vì ông xe ôm đã phóng vùn vụt về phía trước. Tới cái địa chỉ được cho, tôi thấy một tấm bảng lớn kẻ chữ "Đồi Hoa Vàng" trước cửa một cái quán to đùng nằm ở hai mặt đường. Nhìn cách trang trí kiểu nhà giàu của quán và diện tích của quán, tôi la lớn:
  • Không phải quán này đâu! Quán kia nhỏ và có tên là "Quán Hoa Vàng" cơ.
Một ông từ trong quán bước ra nói:
  • Đúng rồi, ở đây có hai quán mang tên "Hoa Vàng" lận. Đây là quán của họa sĩ Trịnh Cung, còn quán kia là của ông Phạm Thiên Thư... Mấy ông muốn tìm quán nào?
Tôi vui vẻ đáp:
  • Tụi tôi muốn tìm quán của ông Phạm Thiên Thư, không phải để uống cà phê mà lại để... lấy sách... Nếu anh biết xin chỉ dùm.
Ông này cười cười nói:
  • Chúng tôi là chỗ quen biết cả, các anh uống ở đâu cũng thế thôi. Nhưng mà khi nào rảnh thì nhớ ghé lại quán này uống thử một lần cho biết nhé.
Nói xong, ông ta chỉ cho ông lái xe ôm đường đến "Quán Hoa Vàng". Chao ơi, quán ấy chỉ cách đó có mấy ngõ, nằm ở số 9B đường Hồng Lĩnh, ngõ này tụi tôi chạy qua chạy lại mấy lần mà chẳng nhìn ra, tại vì quán quá nhỏ và lại không có bảng hiệu chĩa ngang đường.
Xe dừng trước quán, Nguyễn Đạo Huân rút tờ 50 ngàn đưa cho ông xe ôm, ông ta nói không có tiền thối, rồi cầm tờ giấy bạc chạy thẳng. Huân cười nói chắc tay này biến luôn rồi, nhưng tôi lại trấn an với lý luận rất tự tin:
  • Ông ấy sẽ trở lại vì hai lý do: Một là vì ông ấy có "bến xe" đàng hoàng, hai là vì tôi thấy ông ấy giơ tay chào một người ngồi trong quán...
Tôi và Huân cá nhau, nếu tôi sai phải đền Huân 50 ngàn, còn nếu tôi đúng thì được lãnh nguyên số tiền thối lại của ông xe ôm.

Gửi xe xong, tôi và Huân bước vào quán, nhìn sang bên kia đường tôi thấy một "lão nông" đang cầm điếu thuốc rít vội thêm mấy hơi và ném cuống tàn xuống đường. Tôi dơ tay vẫy và gọi lớn:
  • Anh Thư, tụi này tới thăm anh nè...
Huân giật mình nhìn theo, với nỗi thất vọng hiện rõ lên trên mặt:
  • Ủa... ông già đó là Phạm Thiên Thư à?
Tôi cười, nói nhỏ đủ để cho Huân nghe:
  • Mấy ông nhà thơ ít có ai đẹp "giai" lắm...
Quả thật, nhà thơ Phạm Thiên Thư người có những bài thơ tình diễm tuyệt, bay bướm lả lơi, lại là một người đàn ông hơi thiếu vẻ dễ nhìn. Có lẽ ngoài đôi mắt lồi, cái mũi to, ông lại còn có một hàm răng "mái hiên" ngổn ngang cái còn cái mất trông rất "ấn tượng" lại còn cáu đen lẫn vàng úa vì nhựa thuốc lá - khiến khuôn mặt ông trở nên "bình dân" đến độ khó có thể thuyết phục người đối diện đó là một nhà thơ... lớn.

Đang khi ấy, ông lái xe ôm quành lại, tôi dơ ngón trỏ lên để cho Huân biết tôi là người thắng cuộc – và khoác tay ra dấu bảo ông xe ôm đi luôn đi khỏi cần thối lại. Ông xe ôm mừng húm vẫy tay mấy lần để cảm ơn trước khi vù xe đi mất.

Chúng tôi chọn cái bàn kê ngoài sân có dù che nắng. Lúc ấy trời mưa lất phất, nhưng tôi cảm thấy dễ chịu và không muốn dời vào chỗ trong nhà. Quán rất hẹp, chỉ kê được chừng ba bốn cái bàn, và khi có đông khách quán phải chiếm hữu luôn cả cái lề đường đằng trước nhà, lẫn bên kia đường để kê thêm bàn. Gần bên quầy tính tiền là một kệ sách nhỏ, nơi trưng bày một số tác phẩm của Phạm Thiên Thư, ai muốn mượn đọc tại chỗ hay mua đều được chấp thuận.

Khi đã yên vị với hai ly cà phê sữa đá, tôi và Huân mới quay sang nhà thơ đang ngồi bên để kể lể nỗi niềm:
  • Tụi này kiếm quán anh cực gần chết, may mà nhờ ông xe ôm chứ không thì đã bỏ cuộc rồi.
Rồi tôi kể cho nhà thơ nghe về chuyện đi tìm quán, và lạc đến quán "Đồi Hoa Vàng". Tôi hỏi:
  • Ở đây kỳ quá, đã có Quán Hoa Vàng, rồi lại có quán Đồi Hoa Vàng? Sao anh không "có ý kiến" với cái ông lấy trùng tên ấy?
Nhà thơ cười hềnh hệch:
  • Đáng lẽ mình phải đặt tên là "Động Hoa Vàng" mới phải, nhưng mấy ông ở đây nghe chữ "động" là đến hỏi thăm ngay... phiền ghê lắm, nên tôi phải "cải" lại thành "quán" nghe cho nó hiền lành... Còn cái anh kia lấy là "Đồi" thì mình chẳng ọ ẹ gì được, vì quán mình có "núi", "đồi" gì đâu...
Nói xong nhà thơ cười hóm hỉnh.

Đúng thế, Quán Hoa Vàng của nhà thơ là do cô con gái của ông ăn bận rất "nghiêm chỉnh" đứng trông coi, và quán bài trí rất đơn sơ nhưng có nét ưa nhìn do có chút không gian cây cảnh được trồng nơi bước lên lầu là chỗ ở của cả gia đình. Điều này khác hẳn với các quán khác có lắm đèn mờ và đầy rẫy các nữ tiếp viên ăn mặc "tươi mát". Ông giải thích:
  • Quán gia đình thôi ấy mà, kiếm thêm tiền chợ, và có chỗ để anh em gặp nhau nói chuyện thơ văn.
Nhà thơ Phạm Thiên Thư cho biết, nhạc sĩ Phạm Duy người đã phổ nhạc nhiều bài thơ của ông, cũng đã đến quán này để thăm và báo cho ông biết mấy bản nhạc phổ từ thơ của ông như "Đưa em tìm động hoa vàng", "Ngày xưa Hoàng thị"... đã được nhà nước cho phép hát lại, và các bản khác như "Em lễ chùa này", "Gọi em là đóa hoa sầu"... thì còn đang chờ duyệt. Nhiều tên tuổi khác từ bên Mỹ, bên Pháp về thăm cũng được ông moi óc nhớ lại. Khi nhắc tới Bích Xuân ở bên Pháp, ông gật gù khen cô ấy làm thơ "sex" hay lắm, nghe "phê lắm". Trong khi đang nói chuyện, một phụ nữ mặc áo dài vai mang một cái túi xách đứng bên kia đường đưa tay ngoắc nhà thơ, ông vội vã đứng lên đi ra khỏi quán.

Tôi thấy bà ta đưa cho nhà thơ mấy cuốn sách, cuốn nào cuốn nấy dày như một quyển tự điển. Nhà thơ đem sách và mấy tập bản thảo vào ngồi lại với bọn tôi, ông lấy ra hai cuốn ký tặng tôi và Huân, xong xuôi ông đưa cho tôi mấy tập bản thảo của những cuốn chưa xuất bản bảo đem về đọc trước rồi cho ý kiến. Tôi từ chối, vì tập nào tập nấy nặng cả ký, làm sao mà mang hết về Úc được, tôi nói:
  • Khi nào anh xuất bản thì... đọc cũng chưa muộn. Anh có nhớ lần trước không, anh đưa mấy tập bọn này cũng phải để lại, và bây giờ anh ra sách rồi... đọc trước đọc sau cũng giống nhau thôi.
Nhà thơ xoa hai bàn tay vào nhau, cười hỉ hả:
  • Có "em" đệ tử lo cho hết mà, các anh lấy hết tập này thì nó mang đến tập khác ngay.
Rồi ông kể huyên thuyên đủ thứ chuyện, và chỉ toàn những chuyện ông muốn nói, khiến các câu hỏi của tôi về "đời tư" ông đều né tránh bằng cách nói "lâu ngày quên rồi" hay "tôi bị bệnh mất ngôn ngữ nên không diễn tả được"...

Tôi lấy làm lạ, một người bị bệnh "mất ngôn ngữ" như ông mà năm nào ông cũng tì tì cho ra một hai cuốn sách, và cuốn gần đây nhất là cuốn "Tiếu Liệu Pháp: Tự Điển Cười" dày cả 500 trang mà tôi đang cầm trên tay do ông ký tặng.

Nhưng thú thật, tôi rất thất vọng bởi Phạm Thiên Thư ngày nay đã khác hẳn với Phạm Thiên Thư của Saigòn trước năm 1975, bởi người đọc sẽ khó mà tìm ra những vần thơ dễ thẩm thấu, dễ ưa, mà nay chỉ còn là những đoạn thơ rời rất khó hiểu viết về các đề tài vụn vặt trong đời sống.

Nhiều người đến với Phạm Thiên Thư, hay biết về Phạm Thiên Thư là do phần lớn những bài viết của ông ở thập niên 70 - đoạn sau của sự nghiệp văn chương của ông chỉ là một bóng mờ đáng lẽ không nên có - để người yêu thơ vẫn giữ nguyên được hương thơm của hình bóng cũ. Nó cũng giống như một người tình thời xuân sắc, sau hơn ba mươi năm tái ngộ... thì sẽ có kẻ hối tiếc nói thà đừng gặp lại thì hơn!

Tôi hỏi ông về thời gian tu trì làm Đại Đức, ông hóm hỉnh:
  • Tu mà vẫn nhớ... đàn bà thì tu thế quái nào được. Bài "Ngày xưa Hoàng thị" tôi làm vào lúc đang khoác áo cà sa đấy chứ...
Tâm còn "động" thì phải "ra" thôi... ra thôi... – rồi ông cười lên hinh hích.
Được trớn tôi hỏi thêm:
  • Thế anh có bao nhiêu người đàn bà đi qua đời rồi?
Nhà thơ đưa tay lên vỗ mấy cái vào trán:
  • Chết thật, cái bệnh "mất ngôn ngữ" lại kéo về rồi... làm tôi chẳng nhớ gì sốt cả...
Cả bọn cùng phá lên cười, khiến mấy người ngồi trong quán đưa mắt nhìn dò xét, chắc họ nghĩ chúng tôi vừa kể một chuyện "cấm đàn bà" gì đó chăng.

Tôi cũng không chịu buông tha, quay lại hỏi "người con gái" trong bài "Ngày xưa Hoàng thị"? Ông cho biết đó là người bạn gái thời trung học, tên Hoàng Thị Ngọ, nàng là người có mái tóc dài gần đến tận eo và chàng thì hay lẽo đẽo theo sau mỗi khi nàng tan học về. Cuộc tình chỉ có thế, chưa một lần ngỏ lời chưa một lần được vuốt tóc hay cầm tay. Thế nhưng cảm xúc thời "mới lớn" ấy đã làm ông rộn ràng khi đi lại con đường cũ – nơi mà ông đã một thời mơ mộng được ôm nàng trong tay – và trong lúc "nhớ nàng da diết", chàng đã õ "thì thầm" trong óc ngôn từ cho bài Ngày xưa Hoàng thị.

Về nhà ông cầm bút và viết một hơi là xong bài thơ Ngày xưa Hoàng thị với ba dấu chấm (...) sau tên, và ông nói đó là chữ Ngọ, tên của nàng. Tôi hỏi thêm: "Nàng ấy nay đâu?", ông ngập ngừng nói: "Có lẽ bà ấy đã trở thành người thiên cổ mất rồi ..." Nói xong, cả ông lẫn tôi đều rơi vào trong im ắng mất đến mấy phút.

Nhà thơ sau đó còn cho biết ông được "trên cho" một thứ "công năng đặc dị", có thể giúp chữa khỏi nhiều chứng bệnh nan y như ung thư, tiểu đường, sạn thận và đặc biệt là cai nghiện ma túy. Ông kể đã chữa trị thành công và tạo được một "môn phái" với hàng trăm y sĩ do ông đào tạo, nhưng chưa được Bộ Y Tế của nhà nước công nhận (!?) Nhà thơ đã đưa cho tôi coi hàng đống sách vở nói về nhóm này, và những cuộc "tu tập" xem ra rất có tầm cỡ, cùng những trường hợp bệnh nhân được nhóm ông cứu chữa.

Tôi hỏi phương pháp này đến từ đâu, thì ông giải thích là do "hiệp thông" được với "cõi trên" mà có, và ông cam đoan là bất cứ trường hợp bệnh nan y nào do tôi đưa tới ông sẽ bảo đảm chữa khỏi. Tôi nói đùa, sang năm sẽ tìm một người bệnh và đem tới cho ông chữa để coi khả năng "trên cho" của ông kỳ diệu và huyền bí đến đâu.

Trong khi ngồi nói chuyện, Nguyễn Đạo Huân đã lợi dụng thời cơ bấm tới tấp cả chục tấm hình chân dung nhà thơ. Tấm thì đang phì phèo điếu thuốc, tấm thì cười rung mấy chân răng sắp rụng, và tấm thì trầm tư như đang thả hồn về những vần thơ tình lãng mạn ngày xưa... Huân khều tay tôi bảo:
  • Phùa này dư sức về Úc mở một cuộc triển lãm về ảnh của Phạm Thiên Thư.
Tôi nói:
  • Thế cũng bõ công anh em mình lặn lội đi kiếm nhà thơ.
Nhìn đồng hồ thấy đã tới giờ cho một cuộc hẹn khác, tôi đứng lên bắt tay nhà thơ:
  • Hẹn anh sang năm, sẽ đến thăm anh lần nữa.
Ông cười héo hắt:
  • Khó đấy nhá... Chờ hơi lâu đấy nhá...
Tôi nắm chặt tay ông:
  • Anh còn khoẻ mà. Anh mới 66 tuổi phải không?
Nhà thơ không trả lời mà lại dặn:
  • Năm tới nhớ bảo Hồ Ông đến thăm luôn cho vui.
Nghe nhà thơ nhắc đến Hồ Ông, chủ bút báo Văn Nghệ, tôi đưa một ngón tay lên dứ dứ:
  • Thế mà anh bảo anh là người "mất ngôn ngữ" và "mất trí nhớ". Cái ông Hồ Ông anh đã mấy chục năm không gặp, thế mà anh còn nhớ như in...
Phạm Thiên Thư xua tay:
  • Đời là thế, có những chuyện mà mình "tưởng rằng đã quên" thì nó lại chẳng bao giờ quên được, còn có những chuyện "tưởng rằng phải nhớ" thì nó lại xa bay... mất hút rồi!
Cô con gái nhà thơ tiễn tôi và Huân ra khỏi quán với cái giấy tính tiền "nước" lên tới 250 ngàn. Huân bảo sao mắc thế? Nhưng tôi biết tiền hai ly cà phê chỉ có 50 ngàn, nhưng trong đó có tới 200 ngàn là tiền hai cuốn sách mà nhà thơ đã ký tặng.

(H) Nhà thơ Phạm Thiên Thư ký tặng sách "Tự điển Cười" tại Quán Hoa Vàng
(H) Nhà thơ Phạm Thiên Thư, với bài thơ nổi tiếng "Ngày Xưa Hoàng Thị ..."

Xin Được Đóng Góp Sự Thiết Kế Trang Web Này Để Tỏ Lòng Tri Ân Đến Cha Hiệu Trưởng & Quý Thầy Cô