Mẹ Tôi

Tác Giả: Nguyễn Vi Túy, CHS Văn Đức Lớp 12C Niên Khóa 1973 – 1975

Tôi từng đau khổ trong đời ...

Hôm ấy mẹ tôi vui vẻ một cách lạ thường. Bà gọi tất cả mấy đứa con đến bên và dặn sáng hôm sau phải ăn mặc quần áo thật chỉnh tề để đi dự một buổi lễ quan trọng tại Bệnh viện Bình Dân – nơi mẹ tôi đã làm lao công từ nhiều năm qua. Trên đường đi xe lam từ nhà đến Bệnh viện, tôi cứ thắc mắc hỏi mẹ lý do tại sao cả bọn phải nghỉ học, phải mặc bộ quần áo đẹp nhất... để đến Bệnh viện làm gì? Nhưng mẹ tôi chỉ cười và nói lên đó rồi sẽ biết.

Bệnh viện Bình Dân hôm đó thật rộn rã với cờ quạt và nhiều băng rôn chào mừng quan khách. Mấy đứa chúng tôi được dự khán một chương trình văn nghệ thật đặc sắc của các ca sĩ danh tiếng tại thủ đô Saigòn. Rồi thật nhiều diễn văn, và đến màn cuối là một số viên chức gồm bác sĩ, y tá của Bệnh viện được xướng danh lên nhận bằng khen và những gói quà to tướng. Mấy đứa tôi chẳng hề bận tâm đến chuyện này, nhưng mẹ tôi ngồi ở hàng ghế dưới có vẻ thật bồn chồn và mong đợi, hình như mẹ tôi mong được nghe thấy tên gọi... Và khi phần trao quà chấm dứt, mẹ tôi lặng lẽ kéo tay dắt chúng tôi ra về trong một sự im lặng và nặng nề đến khó hiểu!

Cho đến khi mẹ tôi bị cho nghỉ việc tại Bệnh viện, một sự thật ghê gớm mới được mẹ tôi tiết lộ:
  • Lúc ấy chính phủ của ông Kỳ muốn tưởng thưởng những người có công trong mọi lãnh vực, và nhà thương cũng là nơi được bầu chọn những người xuất sắc để nhận giải. Mẹ tôi chỉ là một lao công hạng bét, nhưng lại được lòng mọi giới trong Khu Cấp Cứu (mà mẹ tôi thường hay gọi là Phòng Lạnh), từ Bác sĩ và các đồng nghiệp cho đến bệnh nhân, vì bản tính nhẫn nại và cần cù – thế nên khi có vụ bình chọn, thì ai cũng đề nghị cho mẹ tôi được lãnh giải thưởng đó.
Thế nhưng, khi kết quả lên tới văn phòng Giám đốc, ông bèn thay đổi ngay chỉ với lý do: "Không thể để một bà già quê mùa lên thay mặt Bệnh viện mà nhận vinh dự đó!". Và người lãnh giải thay cho mẹ tôi hôm ấy là một nữ y tá hoa khôi của Bệnh viện, người được ca ngợi là đã "hết lòng và tận tụy trong mọi công việc được giao".

Ai nấy đều lên tiếng an ủi, và mạnh miệng nói sẽ đứng về phía mẹ tôi để khiếu nại về chuyện bất công. Nhưng khi lá đơn của mẹ tôi gửi đi, thì những sự yểm trợ cũng dần dà lui ẩn đi đâu mất, khiến mẹ tôi bị cho nghỉ việc không lâu sau đó, vì lý do xem ra rất chính đáng: không có đủ văn hóa!

Và đây là thời điểm đen tối nhất của gia đình chúng tôi!

Với số tiền tử của bố tôi để lại mà mẹ tôi được lãnh hàng tháng từ Bộ cựu chiến binh, không thể đủ để cho 5 anh chị em tôi ăn học, thế nên từng đứa một đã được ném ra chợ đời để kiếm sống! Trong khoảng thời gian ấy, có một chuyện mà chắc chắn cho đến khi qua đời tôi cũng không thể nào quên được. Đó là chuyện một ông nhà giàu trong vùng Lăng Cha Cả đã vu cho tôi tội ăn cắp!

Để phụ giúp mẹ tôi đang phải tần tảo buôn thúng bán bưng, từ 3, 4 giờ sáng tôi đã đạp xe lên đường Phan Đình Phùng Saigòn để lấy báo đem về bỏ báo tháng và giao cho đứa em ngồi bán tại một sạp báo do tôi tự chế và đặt trước vỉa hè của một căn villa sang trọng. Một ngày kia, khi tôi đang ngồi kiểm báo thì bị một ông già ăn mặc chải chuốt từ trong căn villa ra túm cổ tôi lôi vào trong sân nhà để "hỏi chuyện"!

Cùng "hỏi chuyện" với ông nhà giàu là một ông sĩ quan mặc đồ bay mà tôi chưa lần gặp mặt, và người thứ ba trong nhà ấy là cậu con trai có thân hình yếu đuối và ẻo lả – kẻ mà tôi đã nhẵn mặt, khi ngồi ở sạp báo quan sát những lần cậu hút xì ke và chích choác cùng chúng bạn ở bên kia đường.

Ông già nhà giàu chửi tôi như tát nước, đe dọa bắt bỏ tù, đòi đưa chuyện này về nhà và trường mà tôi đang học. Đã thế ông còn bảo người bận đồ lính là hãy đánh cho tôi một trận vì tội dám cạy cửa sổ vào nhà ông để lấy cắp cái máy cát sét và một cái đồng hồ! Tôi uất ức khóc nghẹn ngào, vì đây là lần đầu tiên trong đời có người túm cổ chửi tôi là đồ ăn cắp, trong khi mình không hề làm chuyện đó. Ông già lý luận là tôi ngồi trước cửa nhà ông ta hết ngày này qua tháng nọ, nên biết rõ ai đi ai ở trong nhà, nên kẻ cắp chính là tôi chứ còn ai vào đây nữa!

Thế nhưng rất may cho tôi, cái ông mặc đồ Không quân mà sau này tôi biết là người con cả của ông nhà giàu, đã có vẻ không tin lắm vào điều vu cáo phụ họa của đứa em trai. Vì vậy ông bảo tôi lui ra và dặn từ nay đừng bén mảng tới gần cổng ra vào của căn villa gia đình ông ta nữa, và ra lệnh cho tôi phải đem sạp báo đi nơi khác!

Tôi ra khỏi nhà ông ta mà vẫn còn khóc! Lúc bố tôi đi lính chết tôi chưa biết đau đớn để mà khóc đến như vậy. Tôi khóc nhiều đến độ đứa em gái và những người bán hàng gần đó phải xúm đến an ủi. Ông vá xe đạp bên kia đường bảo tôi dời cái sạp báo qua bên đó, nhưng tôi phân vân mãi vì nếu làm thế sẽ ngược đường đi làm của những người mua báo vào buổi sáng. Nhưng tôi không còn sự lựa chọn nào khác, dù biết sẽ bị thiệt hại vì số báo bán giảm, cũng như phải chạy qua chạy lại giao báo cho những người khách quen không muốn băng qua đường.

Chuyện đó làm ám ảnh tôi rất lâu! Những ngày đầu tôi buồn bã đến độ mê sảng ngay cả trong giấc ngủ. Có đêm tôi la hét: "Không phải tôi ... Tôi không lấy ... Không phải tôi ..." vang động cả nhà khiến nhiều người thức giấc. Mẹ tôi biết chuyện, không chịu để tôi bị xử ép nên đòi lội bộ đến nơi để làm ra lẽ, làm tôi phải can ngăn mãi mẹ tôi mới bỏ qua.

Tưởng vậy là yên. Nào ngờ một hôm tôi ra bày báo, thấy cái sạp gãy tả tơi. Tưởng là bị đám nhỏ nào nghịch ngợm, tôi sang mượn búa kềm của ông vá xe đạp để đóng tạm lại. Về nhà tôi kể cho mẹ tôi nghe, mẹ tôi mới cho biết chiều hôm qua đã đến trước cửa ông nhà giàu để mắng cho ông ta một trận về tội vu oan giá hoạ, và kết quả sau đó là cái sạp báo của tôi bị thằng con xì ke của ông ta đập phá tan tành.

Hôm sau tôi mua gỗ và mang thêm cưa để đóng lại cái sạp. Vừa đóng tôi vừa nước mắt lưng tròng khiến ông vá xe đạp đòi trả thù dùm tôi bằng cách ném cứt vào nhà ông nhà giàu. Tôi lại phải van xin hết lời, để khỏi bị lôi thôi rắc rối. Sau này mẹ tôi có việc làm khác, chị tôi cũng vậy, và anh tôi nghỉ học giữa chừng để đi lính. Tôi được yên tâm trở lại việc học, nhưng vẫn duy trì việc bỏ báo tháng cho những nhà quanh vùng Lăng Cha Cả, và phải dẹp bỏ cái sạp báo đã gây ra nhiều "oan trái" trong quãng đời thơ ấu. Những năm sau này khi đã khôn lớn, mỗi lần có dịp đi ngang căn villa của ông nhà giàu, trái tim tôi cũng vẫn còn bị đau nhói như có ai bóp nghẹt, và vẫn nhớ như in cái buổi bị "trấn áp" bằng những lời lẽ quá đỗi nặng nề!

Tôi tin chắc gia đình của ông nhà giàu kia không thể nào ngờ được là tôi đã bị khủng hoảng tinh thần lâu dài đến như vậy. Nó đã làm cho tôi có một sự đối kháng ưa bộc lộ mà ngay cả những người thân trong gia đình cũng không thể nào biết và hiểu được: đó là thói quen ưa mua máy hát và đồng hồ. Tôi mua nhiều đồng hồ đến độ trong nhà chỗ nào cũng có, và máy cát-sét cũng vậy. Có lần mẹ tôi đã thắc mắc trong các lần gửi quà về Việt Nam của tôi: "Bộ con không biết mua cái gì khác hay sao mà cứ gửi máy hát và đồng hồ hoài vậy?". Ngay cả ông thầy dạy học cũ của tôi cũng ngạc nghiên về chuyện này, và tôi phải nói dối là ngày xưa đi học có cái đồng hồ lên giây đeo ở tay bị giật mất, nên sang đây thấy đồng hồ rẻ rề mua đeo và treo la liệt cho... bõ ghét!

Từ cái quá khứ đau buồn ấy, tôi được trang bị một bài học đắt giá về việc đừng làm ai đau khổ vì bất cứ hành động nghi ngờ nào hướng về họ. Chuyện này không phải dễ, bạn không tin cứ thử nghiệm lại mà coi: Bạn mất vật gì đáng giá trong nhà, việc đầu tiên là bạn thường tra xét và dò hỏi những người chung quanh, và lúc ấy trong mắt bạn ai cũng là kẻ đáng nghi – chỉ có kẻ nghi ít, và kẻ ngờ nhiều thôi. Và khi tìm lại được vật đã mất nằm lăn dưới gầm giường hay ở một chỗ nào đó, bạn có hối tiếc về những sự nghi ngờ mà trước đó đã áp đặt lên kẻ này người nọ hay không?

Mũi tên đã bắn ra thì không thể nào thu lại. Viên đạn cũng vậy, cái tàn phá của đích đến sẽ khủng khiếp và ân hận đến cỡ nào... nếu mục tiêu đó lầm lẫn!

Tùy bút của Nguyễn Vi Túy

(Các bạn cảm phiền cho nội dung "lạc đề" của bài này nhé, vì Túy viết nó cho báo đạo ở Úc nên... phải thế thôi!)

Xin Được Đóng Góp Sự Thiết Kế Trang Web Này Để Tỏ Lòng Tri Ân Đến Cha Hiệu Trưởng & Quý Thầy Cô