Tờ Báo Xuân Xưa

Tác Giả: Nguyễn Vi Túy, CHS Văn Đức Lớp 12C Niên Khóa 1973 – 1975

Năm ấy chúng tôi đang học lớp 12C Trường Văn Đức, là năm thi mà cả bọn vẫn thức đêm dành thì giờ để làm cuốn Giai phẩm Xuân đánh dấu năm học sau cùng của bậc trung học. Có ai ngờ đâu đây lại là cuốn báo Xuân sau cùng của đời học trò, vì mộng ước làm báo khi lên Đại học đã tan thành mây khói khi biến cố 30.4.1975 ập đến Saigòn.

Hồi ấy, các trường trung học quanh Saigòn đang nở rộ phong trào làm các ấn phẩm nơi học đường. Đủ loại giai phẩm, đặc san, nội san, thi phẩm... ào ạt ra lò qua phương pháp đánh máy trên giấy tăng-sin (tengsin) và đem quay roneo. Trường nào có tay vẽ bút sắt (vẽ trên giấy tăng- sin) giỏi là tờ báo của trường ấy ăn trùm, vì báo học trò chủ yếu là hoa-lá-cành còn nội dung thì không lo vì người viết bao giờ cũng nhiều hơn người làm, không phải trả tiền nhuận bút, lại chẳng có ai kiểm duyệt nên "Ban Báo Chí" tha hồ mà vẽ rồng vẽ rắn.

Ngay từ khi đặt chân đến xin học tại đây, tôi đã thuyết phục Cha Hiệu Trưởng Nguyễn Xuân Thu mua cho trường một cái máy quay roneo, vừa để văn phòng trường in tài liệu, vừa để Ban Đại Diện Học Sinh thực hiện các tuyển tập. Mua cái máy mới tối tân và chạy bằng điện thì phải bỏ ra một món tiền quá lớn, nên cha chỉ cho mua cái máy cũ xì quay tay trị giá có hơn ngàn bạc. Dầu thế, cả bọn vẫn bắt máy làm việc hết mức, hết khả năng mà nó có thể cung cấp. Đã thế, khi tới việc có thằng còn chế ra mực đỏ mực xanh quết lên vòng mực khiến bài báo khi in ra lại có mấy màu xen kẽ trông thật dễ ưa. Khi tiền ủng hộ khá giả, cả bọn còn đạp xe vào Chợ Lớn tìm mua thêm mấy "ream" giấy màu để quay phụ bản hoặc dành cho các trang có bài đặc biệt.

Máy quay tay tuy chậm nhưng có cái lợi là "ban biên tập" có đủ thì giờ để lựa chọn những trang đẹp và loại những trang xấu (in chập, in nhoè) ra khỏi cuốn báo. Tuy vậy cả bọn nhiều khi cũng điên đầu vì ráp trang lộn, phải đánh máy lại và in lại đến mấy lần mới xong. Thời này kiếm một cái máy đánh chữ không phải dễ, cả bọn thường lén mở cửa văn phòng thư ký của trường để lấy máy đánh vào ban đêm. Đánh sai, đánh thiếu, đánh mạnh bay cả chữ O ra khỏi giấy tăng-sin... đều là chuyện hạ hồi phân giải, miễn sao có chỗ để chừa cho tên họa sĩ vẽ tựa đề hay chêm vào mấy cái hình cho hợp với bài viết là được. Lúc có thì giờ, tên chuyên viên "mổ cò" mà tụi tôi phân công đi đánh máy còn kẻ hàng giữ lề phải, để bài in ra giống như chữ có xếp cột của nhà báo chuyên nghiệp, trông có "giá trị" không thể chê vào đâu được.

Những đêm thức trắng để quay roneo mặt mày đứa nào đứa nấy phờ phạc, râu ria mọc ra lổm chổm trông chẳng ra người. Đã thế tay chân lại còn dính mực tèm lem trông y như những ông sửa xe đạp ở đầu đường. Nhưng không hiểu sao lúc nào tôi ới đi "làm báo" là cả bọn chẳng thiếu đứa nào. Đôi lúc còn có những cô bạn học xâm mình dám trốn nhà ở lại trường để "hy sinh vì nghệ thuật", khiến không khí làm việc đột ngột trở nên quan trọng và nghiêm chỉnh, khác hẳn khi chỉ có bọn đực rựa với nhau.

Tuy đứa nào cũng thích có "gái" bên cạnh để tán nhăng tán cuội, để vòi vĩnh ăn xôi, nhưng thực tế cho thấy năng lực sản xuất giảm hẳn đi, vì chẳng có đứa nào dám... tụt quần dài ra để làm việc, chẳng dám trèo lên bàn để ngủ, đã thế nếu có chuyện sai vặt như đi mua chè, mua khoai thì đứa nào cũng từ chối: "Tớ đang dở tay việc này, bỏ đi đâu ai làm được"! Thực tế chẳng có chuyện gì quan trọng cả, mà chỉ vì chàng muốn giựt le, muốn chứng tỏ với cô bạn học là "đang thi hành một nhiệm vụ cực kỳ khó khăn" trong Ban biên tập mà thôi.

Bài vở tuy nói là thế nào cũng được, nhưng thực ra cả bọn đã theo một "thực đơn" có sẵn cho một cuốn Giai Phẩm. Lúc nào mở đầu thì cũng có lời "hiệu triệu quốc dân" của Cha Hiệu Trưởng, rồi sau đó mới tới Giáo sư Hướng dẫn (hay Gs trưởng khối báo chí), và đương nhiên không thể thiếu "lời phi... ngựa" của anh Tổng Thư Ký (kiêm trưởng ban biên tập). Sau phần nghi lễ là tới bài Sớ Táo Quân, bài Năm Mùi Nói Chuyện Dê (nếu là năm Dê), các bài truyền thống về nhà trường hoặc lễ tết, các bài đóng góp đặc biệt của Thày Cô, rồi sau đó mới đến bài của các "thi văn sĩ trẻ" trong trường.

Đặc biệt trong cuốn Giai Phẩm Xuân sau cùng vào năm 1975, bọn tôi còn viết về "Những Cái Nhất Của Lớp 12C". Bài được giữ bí mật cho đến lúc báo phát hành, có đứa cười hả hê sung sướng, còn có đứa tức như bị bò đá vì bị bầu cho những cái nhất không giống ai. Thí dụ như tôi được bầu là "người cao nhất lớp", thằng Khôi được bầu là "thông minh nhất lớp", thì con nhỏ Yến dễ thương thay vì được bầu là "người đẹp nhất lớp" thì tên đánh máy lại sửa lại thành "Hoa hôi" (thiếu mất chữ K) khiến cô nàng khóc rấm rức suốt mấy ngày. Con Uyên thì còn thê thảm hơn, trước đó Ban biên tập đã bầu nàng là "Duyên dáng nhất lớp " thì cũng bị tên đánh máy chơi khăm đánh thành "Uyên D nhất lớp"...

Để cho cuốn Giai phẩm Xuân tăng thêm giá trị, cả bọn hùn tiền in giấy bìa cứng, tuy không offset 7 màu như các tờ báo xuân khác, nhưng cũng có thêm hai màu xanh đỏ, lại đem đi đóng gáy cắt xén cẩn thận nên trông cũng ra gì. Lúc cầm tờ báo còn thơm mùi mực, thằng Vũ ưỡn ngực tuyên bố: "Đủ trình độ và tầm vóc quốc tế để đem chuông đi "đấm" các em ở trường bên rồi!". Năm ấy trong trường ai cầm được cuốn báo Xuân cũng phải thốt lời khen, ấy vậy mà chỉ độ tuần sau, khi cả bọn ăn Tết xong trở lại trường thì đã bị cha Hiệu trưởng gọi lên "hỏi thăm sức khoẻ!"

Ai đời, Cha Hiệu Trưởng đã ưu ái tặng cho ban biên tập cả hai ngàn đồng (tôi nhớ là học phí lớp 12 thời ấy là $700 một tháng) tiền giấy mực rồi mà vẫn bị đám con trời đánh "chơi" ngay ở những trang đầu! Tay họa sĩ đầy tin tưởng của tôi không biết có thâm thù gì với Cha Hiệu Trưởng hay không mà hắn vẽ hình hí hoạ một chú học sinh đi học trễ đứng cúi đầu khoanh tay nói: " Thưa cha rằng...", trong khi cha Hiệu trưởng chắp roi mây sau đít rung rung như đe dọa. Lúc cha lật cuốn báo và chỉ vào câu phụ đề của hình vẽ tôi mới hết hồn, vì cha là người có hàm răng vẩu "nạo dừa" rất tuyệt, và hàng chữ "thưa cha rằng" đọc ngược lại là "răng cha thừa"... thế có chết người không cơ chứ! Cả bọn phân bua rằng đây là "tai nạn nghề nghiệp" do nhiều việc quá mà không có ai coi lại, chứ không phải chủ ý của Ban biên tập, rồi thề hứa sẽ cho thu hồi những cuốn đã phát và dùng bút đen đục bỏ hàng chữ kinh hoàng ấy trong những cuốn còn lại!

Chuyện ấy chưa xong, hôm sau ông Giáo sư trưởng khối báo chí lại gọi cả bọn lên để "tiếp tục làm việc". Trước hết ông không tiếc lời khen cả nhóm dù thi cử ngập đầu mà vẫn hoàn thành được giai phẩm, và sau đó ông đem ra "dũa" những bài mà ông cho rằng không nên đăng, vì đây là cuốn báo đại diện cho trường và còn có nhiều lớp đàn em khác đọc. Một trong những bài mà ông than phiền tới than phiền lui lại là một bài thơ của tôi! Ông bảo tôi mới tí tuổi đầu mà đã làm thơ "cà chớn", và cho đến nay tôi đã thấy bài thơ ấy dở hơi thật, chẳng giống con giáp nào, thế mà hồi ấy không hiểu sao tôi lại dám cả gan "quăng" nó lên giai phẩm.

Thứ Hai hàng tuần trường có lễ chào Quốc kỳ, ông thầy hiệu đoàn phó Kiều Thanh Long "trừng phạt" Ban Đại Diện bằng cách không giới thiệu tôi (là Tổng Thư Ký) lên tường trình sinh hoạt trong trường như đã định. Ông lấy lý do "Cha Hiệu trưởng vẫn còn giận vì bức tranh diễu trên báo", và sợ tôi lại đề cập đến cuốn Giai phẩm, nhưng tôi biết Cha Hiệu Trưởng không có tánh giận dai, mà chỉ có ông thầy Trưởng khối Báo chí cảm thấy có phần trách nhiệm khi không "cố vấn" đầy đủ cho Ban biên tập, và sơ suất này làm lộ ra khuyết điểm của ông là không hề giúp gì cho cuốn báo.

Mới đây tôi được một thằng bạn cũ trong ban biên tập, tên Trần Minh Vũ gửi sang cho nguyên cuốn Giai Phẩm mà nó cất giữ đã trên 27 năm. Cuốn báo đã bị mọt ăn loang lỗ gần hết cái bìa, nhưng may sao nội dung bên trong vẫn còn nguyên vẹn. Nó bảo gửi sang để tôi có dịp hồi tưởng lại mọi diễn biến, mọi khuôn mặt đã một thời áo trắng trong cuốn báo, và đọc xong thì nhớ trả lại cho "khổ chủ". Thư nó viết khá dài nhưng tôi thương nhất câu viết đùa: "Tao giữ nó còn hơn giữ mả bố, vì mả bố chẳng còn để giữ ... mà nó thì còn ..."

Khi cầm trên tay cuốn báo, tôi bồi hồi xúc động, nâng niu như một báu vật vừa tìm lại được. Tôi mâm mê những trang giấy úa vàng, đè lại cái đinh bấm ở gáy đã hoen rỉ và sắp gẫy rơi ra... Tôi nhẹ nhàng lật dở từng trang, dĩ vãng như cuốn phim chiếu chậm, đầu tiên là bài thơ mà tôi bị ông thầy Trưởng khối Báo chí "kê tủ đứng" nằm nơi trang 29 có tựa đề "Về yêu cẳng cái", xin được chép lại nguyên vẹn để bạn đọc cùng... cười:

Về Yêu Cẳng Cái, Một Chiều Cuối Năm

Yêu em từ ngón bàn chân,
Yêu lên mái tóc chỉ ngần ấy thôi!

Này em! Người chuyên đi lang thang như anh... ăn bắp nướng
Ăn thì sướng, nhưng coi thật là khổ
Bởi em tưởng anh là nghệ sĩ đang thổi Acmonica
Với tấu khúc nhịp nhàng...
Em đi vội vàng,
Vội vàng như gió thổi lan can
Sao mà chán ngán!
Thoang thoảng đâu đây mùi đậu rán, ngon quá em ơi!
Em đi chơi với ai,
Áo nhăn phơi nơi bờ dậu đó?
Gió sẽ làm khô... còn anh thì trông ngó.
Kìa gió làm áo em bay, reo vui như lúc em cười tình trước ngõ
Anh vàng võ trông theo...
Hôm qua em mặc áo vàng,
Giờ đây đã thấy áo nàng... phong phanh.

Em ơi! Tình nghĩa đôi ta mong manh như áo phơi nơi đó
Như cơn gió lạ mùi, như chiếc bàn chải cùn kỳ cọ,
Như nước bọt xà bông, như bông hồng gai góc,
Anh yêu em từ bàn chân lên mái tóc,
Từ mái tóc đến cuối bàn chân...
Yêu em rồi để suy nghĩ phân vân
Có lúc nào ta gần gũi trao thân?
Anh mong rằng em sẽ chẳng mang cân
Cân tình anh với cái cân đồ bỏ!

Anh yêu bờ môi em
Bờ môi em ngọt ngào, cong cớn
Nguýt anh dài như đuôi con chó đốm
Anh yêu bộ ngực em dày cộm
Thật xuân tình cho đời bỗng lên hương,
Anh còn yêu những lọn tóc còn vương
Mùi bồ kết cho anh thương hơn nữa.
Anh yêu chiếc áo dài vàng,
Chiếc quần parte trắng của nàng đang phơi.

Anh còn yêu nhiều lắm
Nhưng sẽ chẳng nói ra,
Sợ em cho rằng anh nói bậy
Nhưng em ơi “nếu không bậy đâu có nẩy ra hiền”.
Anh còn yêu đôi chân em nhỏ bé
Vén váy lên lúc lau nhà
Em lau... anh trông cả
Chao ơi tuyệt diệu quá
Đời chỉ vì cái lá
Cái lá mọc từ thân
Cái lá có đường gân...

(Thầy Sanh dạy như vậy Em có thuộc bài không?)

Áo em phơi nơi đó
Chắc hẳn cũng chưa khô
Anh ngồi đây trông hộ
Tưởng chừng đang chờ bờ...
Thương... mô?

(Giáo sư Liêu Kim Sanh, là người dạy tụi tôi môn Vạn Vật).

Nhưng không phải chỉ có một bài thơ trên "làm nên lịch sử", mà còn hai bài khác nữa do ban biên tập "nhận hối lộ" từ một tên lúc nào cũng rủng rỉnh Đức Thánh Trần (tiền giấy loại 500) trong túi, nhờ đã biết hành nghề "đồ tể" trước giờ đến lớp, đó là tên "bạn vàng" Nguyễn Văn Phúc. Phúc trong lớp mê Kim Yến hết lòng hết sức, lúc nào cũng kiếm cớ để tặng cái này cái kia cho nàng, nhưng nàng hững hờ ra mặt vì không chịu nổi cái mùi... hoi vì thịt lợn, dù chàng đã tắm rửa và sức nước bông cẩn thận trước khi đến trường. Chàng biết nàng là người ưa văn nghệ văn gừng, lại thích... văn thi sĩ, nên chàng tìm mọi cách để tán tỉnh nàng qua thơ văn, và đó là lý do có 2 bài thơ "trật búa" này xuất hiện trên Giai Phẩm. Bài thứ nhất là bài:

Yêu Em Say Dam (chữ đắm không có dấu)

Anh khóc đây cho tình mình dang dở
Bởi vì em mà tan vỡ mộng ban đầu
Mang phận nghèo hai đứa phải xa nhau
Yêu một thưở dạ buồn đau héo úa
Anh vẫn khóc bằng trăm lời nguyền rủa
Ta yêu người mà người chẳng yêu ta
Rồi ta như mãnh thú... kêu la
Và say máu xé em... thành mảnh vụn!

Bài thơ gây kinh hoàng cho nàng Kim Yến suốt một thời gian dài, vì lời bàn Mao Tôn Cương của những thằng "thối mồm" trong lớp. Có thằng lấy bút đen thêm dấu vào cái tựa đề đánh sót rồi bảo: "Đọc cái tựa đã phát khiếp, cái gì mà yêu em say rồi... đâm... y chang như là lúc chàng thọc huyết heo vậy! Đã thế, hai câu cuối của bài thơ còn ngụ ý em mà từ chối tình ta thì có ngày ta xé em ra... để nhậu tiết canh cho bõ ghét..." Hậu quả của sự bàn qua tán lại khiến chàng Phúc bỗng dưng nổi tiếng trên thể loại "thơ ngâm dấm" một cách rất ư là... bất tử. Bài thơ khác của Phúc đăng ở gần cuối mục lục, vì dư chỗ nên tay "đả tự" đã phang ngay để "điền vào chỗ trống cho hợp nghĩa". Bài này thật là một bài dại dột nhất của Phúc vì đụng chạm tới hàng ngàn con gái bà Trưng bà Triệu cư ngụ trong vùng:

Đời Tàn Trong Ngõ Hẹp

Gái Nghĩa Hòa, Sơn Tây, Ngã Ba Ông Tạ
Quần rộng bằng thùng phi
Để phơi rốn mít!
Trai anh hùng tứ chiếng
Xách dép chạy theo
Em ơi tình nghĩa nặng đeo
Như dây rau muống chẳng meo mốc gì.
Ai cũng bảo thời ni con ghế
Sắp trở thành những "xế" chạy rông
Nghe rằng nạn cởi tồng ngồng
Sắp ào ào đến, ta trông tí nào.
Không giữ đời, lại cho... xào nấu
Xào khô xong câu sấu cho rồi
Đời nay con ghế than ôi!
Trông như Hồ Quảng đứng ngồi không yên.

Buồn đời vì tai bay vạ gió qua hai bài thơ trên, có lần Phúc thách thức đứa nào tán được Kim Yến, đưa nàng đi coi xi-nê, thì nó sẽ thua cuộc năm trăm đồng. Thằng Vũ thấy tiền sáng mắt, đứng ra làm trung gian và nó đề nghị tôi thi hành "quỷ kế". Tôi và thằng Vũ thuyết phục cô nàng hoa khôi của lớp suốt mấy ngày liền thì mới thành công. Nàng đồng ý cho tôi đậu xe chờ sẵn ngoài đường Lê Văn Duyệt cách trường cả cây số sau giờ tan học, rồi chở nàng lên rạp Rex coi phim. Nàng ra điều kiện phải mua thêm một vé cho con bạn thân ngồi cạnh, và cô này đến rạp trước để Phúc khỏi nghi ngờ.

Phúc lái xe theo, thấy tôi và người tình trong mộng của chàng gửi xe trước Tòa Đô Chính, rồi ung dung sánh vai bước vào rạp hát, khiến chàng như tinh cầu sụp đổ. Tới lúc ấy chàng mới biết chắc nàng không yêu thương gì mình, nên đành... lầm lũi ra về. Giá mà lúc ấy Phúc khôn hơn một chút, mua vé vào coi thì chắc chắn sẽ khám phá ra màn dàn cảnh của tụi tôi. Hôm ấy, tôi đâu có ngờ Vũ cũng có mặt trước và ngồi bên rất thân mật với cô bạn thân của Yến, hóa ra tôi và Yến lại bị Vũ "mượn đầu heo nấu cháo" mà không biết, thật đúng là chuyện... lừa dối nhau, chẳng ra làm sao cả!

Bọn tôi không bao giờ hối hận vì chuyện đã nhận tiền hối lộ của Phúc để đăng bài, bởi thực sự nếu không có Phúc làm Mạnh Thường Quân trong các kỳ ra báo thì cũng kẹt đạn lắm, vì đứa nào cũng... nghèo như nhau! Hồi năm học lớp 11, khi ra Đặc san "Đốt Cháy", Phúc cũng tặng bọn tôi bạc ngàn chỉ vì tôi sáng tác hai câu thơ ký tên Phúc với lời đề tặng Kim Yến: "Gáy em là một trời mơ, Vén cao lên tóc tôi... mờ mắt đi".

Trong lớp Yến ngồi bàn đầu, bọn tôi ngồi sau mà nàng lúc nào cũng ra điều "nóng sốt" nên cứ vén tóc cài trâm, để lộ ra cái gáy với những sợi lông tơ làm bọn tôi bị "chia trí" hết sức trong các giờ học. Phúc cũng vậy, thay vì nhìn lên bảng đen, chàng cứ nhìn vào gáy của nàng để rồi mơ mộng lung tung, nên hai câu thơ đánh trúng tim đen của chàng đã được cả lớp truyền tụng và có đứa khen Phúc là "một nhà thi sĩ lớn của thời đại", khiến chàng khoái tỉ và hết lòng "đóng góp" mỗi khi bọn tôi chìa ra... cuốn sổ vàng.

Dù có những bài dở, nhưng trong cuốn báo Xuân cũ mèm ấy tôi cũng tìm ra được một vài bài hay, thí dụ như bài thơ của Trần Công Châu nằm ở trang 39:

Một Ngày

Sáng ngồi Thăng Long:

Ưu tư trong khói thuốc dày
Làm chim không tổ, từ ngày tha phương
Quê hương chinh chiến miên trường
Tấm thân phiêu bạt còn vương lệ nhòa.

Trưa ở Nghĩa Hòa:

Cổng trường nay vắng áo bay
Thì thôi tôi đã đêm ngày mộng mơ
Một lần rồi để mong chờ
Người ơi sao lại hững hờ thương yêu?

Chiều qua Văn Đức:

Đi trên con phố nghe buồn,
Chiều qua Văn Đức chở nguồn ưu tư
Tháng năm còn lại bây chừ
Ta làm vua giữa hoang vu cõi người.

Tối về Bảy Hiền:

Chỉ còn đây nửa vòng tay
Trao em trao cả tháng ngày nổi trôi
Em ơi nước mắt trường đời,
Thân đơn còn chỉ mỗi lời yêu em.

Không biết Châu có phải là người sáng nào cũng ngồi nhâm nhi ở quán Cà phê Thăng Long, nằm trên đường Thánh Mẫu, cách tòa soạn báo Xây Dựng của Linh mục Nguyễn Quang Lãm chỉ vài căn hay không? Trong thơ thì Châu tả cảnh oai thế, nhưng tôi không tin Châu có đủ tiền và thì giờ để "đi hoang" như vậy. Bọn tôi thời ấy, đồng phục mặc đi học không có quá hai bộ, thỉnh thoảng như khi làm báo xong dư tiền mới có cơ hội rủ nhau đi "đánh chén" khao quân, và bọn tôi thích uống nước mía, ăn đậu đỏ bánh loọt và bò bía ở ngã tư Phan Đình Phùng hơn là vào quán cà phê để làm "ông cụ non". Thỉnh thoảng có dịp cúp "cours" tôi và Phan Tiến, Nguyễn Ngọc Trân cũng hay ghé vào quán Thăng Long để được gặp vài văn sĩ nổi tiếng đến đưa bài cho báo Xây Dựng như Mai Thảo, Duyên Anh, hay ký giả Lỗ Vinh ... Quán này có cô hàng nước tên Hiền trông cũng mi-nhon, mỗi lần tôi vào thì hay gọi món "sữa nước sôi" và bị chọc quê khi cô cất giọng đùa: " Nhớ cho thêm cái... bình... nhe", làm tôi sau đó phải tập tành đổi qua uống cà-phê phin cho đúng điệu giang hồ, để khỏi bị gọi là "công tử bột".

Cả bọn cũng hay viện cớ đến tòa soạn báo Xây Dựng để thăm thằng Phước làm nghề xếp chữ tại đây sau giờ học, mục đích chỉ để học lóm nghề và xin mấy cái hình vẽ bằng mực tàu đã đúc khuôn chì xong đem về nhái lại. Nhìn nó "lụm" chữ thoăn thoắt theo đơn đặt hàng của ông "thầy cò" mà tụi tôi hết hồn, bởi chữ chì đúc ra toàn là chữ ngược, thế mà nó bốc đâu trúng đó không sai chữ nào. Ông cha Chủ nhiệm Nguyễn Quang Lãm có bút hiệu là Thiên Hổ còn làm bọn tôi phục lăn khi thấy ngài lúc thì nói tiếng Pháp lúc thì nói tiếng Anh qua đường dây điện thoại, và tay thì viết tiếng Việt cho các bản tin và đặt các tít (titre) lớn cho trang nhất. Nhìn công việc dồn dập của một tòa báo ra hàng ngày, cả bọn mới thấy việc thức đêm trong hai ba tuần để làm một cuốn đặc san hay giai phẩm chỉ là... chuyện nhỏ, không có gì để mà ầm ĩ, không có gì đáng để mà khoe khoang, nên từ đó cũng dặn nhau "tự chế" để đừng có "gáy lớn" hoặc phổng mũi như trái cà chua trước những lời khen... không mất tiền phúng điếu của thiên hạ!

Phải thành thật mà thú nhận, tuổi học trò là tuổi nhiều mơ mộng, nhiều khi mơ mộng đến hão huyền, bởi lúc ấy bọn tôi ở tuổi "ăn chưa no, lo chưa tới" rất hiếm có chuyện thề thốt yêu đương, chứ đừng nói tới chuyện xâm mình mà dám "đưa em tìm động hoa vàng" để rồi phải mần đám cưới... sớm.

Trong lớp 12C có tên Trần Đình Đề yêu ra mặt cô nàng mang tên Phạm Thị Ý Thu, mà trong lớp hay gọi đùa cặp này là Định Dê và Thú Y. Đề thì có khoái tật là ưa... hút thuốc lào, còn Thu thì lại là người sớm có... bộ ngực không thua gì Thẩm Thúy Hằng. Mỗi lần thấy Thu đi ngang qua đám con trai là y như có lần quần hùng được nghe thằng Hưng Sún ngâm nga câu ca dao rất đểu: "Em nay đã có hơi... giai, Thảo nào cặp vú như hai... quả dừa"

Có lần tụi tôi khám phá ra hai đứa nó trốn trong phòng Sinh hoạt Học đường của Ban Đại Diện, mặt con nhỏ Thú Y thì đỏ bừng, trong khi cu cậu Định Dê lại bực mình ra mặt vì bị phá đám. Sau đó có thằng nham nhở hỏi là hai đứa đã hôn nhau chưa, thì nàng Thu... sầu mới dơ tay lên thề: Làm gì có chuyện đó! Miệng ông ấy toàn mùi thuốc lào, làm sao tui chịu nổi...

Thế là từ đó Đề có thêm biệt danh "ba số tám" (888), là tên của một loại thuốc lào có in câu quảng cáo: "Rít vào thơm tho và say đắm đến lịm người". Có thằng còn nghịch ngợm nhái thơ, viết ra giấy rồi gấp thành máy bay phóng tứ tung trong lớp để mọi người cùng đọc: "Lần đầu Đề ghé môi hôn, Ý Thu bụm miệng, hết hồn kêu... hôi"

Đề cũng làm thơ như Phúc, nhưng lời lẽ khá hơn, tình tứ hơn, nên đã chiếm được cảm tình của Ý Thu ngay từ bài thơ đầu tay mang tựa đề "Thương Em", qua bút hiệu Lynh Phong đăng nơi trang 74 của Giai Phẩm:

Thương Em

Thương em anh đã thương rồi,
Thương em nào phải “hôn môi” vội vàng.
Thương em dù rất muộn màng,
Thương em anh thấy ngày vàng qua mau.
Thương em tiền kiếp từ lâu
Thương em nào muốn đong sầu tái tê.
Thương em muốn trọn phu thê,
Thương em nào muốn ê chề tình thân.
Thương em chả muốn lặng câm,
Thương em muốn hét vang ầm thế gian.
Thương em nào dám dối gian,
Thương em để thấy hân hoan cuộc đời.
Thương em một đóa hoa cười
Thương em ta đặt những lời gấm hoa.
Thương em chẳng muốn chia xa
Thương em anh muốn một nhà từ đây.
Thương em lời gửi chân mây,
Ý em thừa biết rừng cây mong chờ.

Đọc hết bài thơ không ai tìm ra được lỗi gì, ý tứ cũng chẳng có gì mới, chỉ là bài lục bát thường mà ai khi yêu cũng có thể... rặn ra được y chang. Nhưng đối với chàng Đề thì đây là một tác phẩm bất hủ, một tình thơ diễm tuyệt mà không bài thơ "tán gái" nào trên thế gian này có thể sánh được. Chính vì thế mà tay "mổ cò" đã bị Đề xạc cho một trận tơi bời hoa lá cành vì đã dám sửa lời thơ của chàng, làm cho bài thơ "lạc ý" khi bị sai tới hai lỗi quan trọng. Thấy bộ mặt nhăn như khỉ bị táo bón của Đề, tôi vặn hỏi mãi thì hắn mới nói:

Tại sao chữ hôn môi lại đóng ngoặc kép? Câu thứ 10 là "Thương em muốn "hát" vang ầm thế gian" sao lại đánh thành "hét"? Còn câu cuối sai một cách không thể tha thứ được là "Ý em Thu biết rừng cây mong chờ" lại bị đánh thành "Ý em thừa biết..." là sao?.

Cả bọn phá lên cười, riêng tôi thì bào chữa:

Chắc tụi nó muốn nhắc đến vụ "hôn môi vội vàng" vì mùi thuốc lào của mày chứ gì? Và tao không hiểu tại sao mày lại có thể "hát vang ầm thế gian được", nên thằng Hùng đánh sai thành "hét" cũng có lý do của nó. Còn câu cuối tao thấy "Ý em thừa biết" hay hơn là "Ý em Thu biết rừng cây mong chờ", vì chẳng có rừng cây nào mà mong chờ mùa Thu cả, rừng Thu thì bao giờ cũng... trụi lá, bộ mày muốn tụi nó trêu người tình của mày thuộc loại "nô-he sao?

Thế là cu cậu cụt hứng, không còn khiếu nại nữa!

Ngoài một số điều vui vui được trích trong cuốn Giai Phẩm Xuân ngày ấy, cuốn báo còn "tiên tri" nhiều điều về số phận của những kẻ "đầu thai lầm thế kỷ", để rồi đại đa số trở thành "nửa thầy, nửa thợ", kẻ ra đi người ở lại, kẻ mất dấu biệt tăm không thấy ngày về... Tôi bồi hồi xếp lại cuốn báo, không muốn đọc những bài nặng trĩu sầu của Trần Minh Vũ viết về "Thảm Cảnh Quê Hương", của Nguyễn Văn Khánh viết về ngày giã từ cuộc chơi của Phi Hùng khi chết trận tại Vĩnh Bình, của Châu Huyền Khanh (con gái nhạc sĩ Châu Kỳ) viết về cuộc tình "Rồi Đã Rời Xa" khi chàng trở về trong... hòm gỗ cài hoa...

Khi cầm cuốn báo xuân xưa đặt lên ngực, trí óc cũng đưa tôi về lại sân trường cũ, tôi thấy những tà áo trắng ngập trường, chạy nhẩy và tung tăng như đàn bướm, tôi nhớ những buổi xếp hàng đứng chào cờ vào mỗi sáng thứ Hai, tôi thấy đầy đủ các thầy đã dạy chúng tôi ngày xưa như: Cù An Hưng, Đinh Đức Mậu, Đinh Tiến Lãng, Nguyễn Khắc Lãng, Trần Mạnh Tường, Dương Hồng Phong, Trịnh Danh, Phạm Hương Tích, Nguyễn Quang Tuấn, Liêu Kim Sanh, Bùi Đình Tấn, Trần Ngọc Chất, Lê Đình Bảng, Đồng Văn An... đang đứng trên bục giảng và chúng tôi cắm cúi ghi bài...

Nhưng thực tế oái oăm của thời gian đã lôi tôi về với thực tại, mấy ông thầy trường thi khả kính ngày xưa ấy đã lặn đâu mất biệt, các cặp tình nhân xưa cũng chẳng ai lấy được ai. May mà còn tờ Giai Phẩm Xuân rớt lại, nếu không những chuyện cũ của một thời áo trắng cũng bỏ tôi mà đi mất rồi...

Xuân Quý Mùi

Xin Được Đóng Góp Sự Thiết Kế Trang Web Này Để Tỏ Lòng Tri Ân Đến Cha Hiệu Trưởng & Quý Thầy Cô